www.tudieu.de

Ngõ Vào Nội Tại - Ghi chú

← 4 Trang Đầu 6 →


DHAMMĀNUSSATI


Muốn tu tập đề mục này, hành giả cũng nên tìm tới một chỗ kín đáo, rồi suy tưởng về 6 hồng ân của Pháp Bảo, ở đây chỉ cho Pháp học (pariyattidhamma) và Siêu thế Pháp:
  • Svākkhāto bhagavatā dhammo: Pháp ấy đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng.
  • Sandiṭṭhiko: Pháp ấy cần phải được thực chứng tự bản thân (phải thực khán, trực khán).
  • Akāliko: Pháp nghĩa ấy vượt ngoài thời gian.
  • Ehipassiko: Pháp ấy thiết thực hiện tại.
  • Opanayiko: Pháp ấy là ngõ nhẫn nhập mục đích.
  • Paccattaṃ veditabbo viññūhīti: Pháp ấy cần phải được người trí tự chứng ngộ lấy một mình.


SVĀKKHĀTO: THIỆN THUYẾT

Pháp khéo thuyết ở đây chỉ cho Pháp học (Pariyattidhammo) và Siêu thế Pháp (Lokuttaradhammo). Trước hết, nói về Pháp học. Sở dĩ Pháp học (phần giáo lý) được gọi là khéo thuyết, vì đó là những Pháp toàn hảo, trọn vẹn: phần đầu, phần giữa, phần cuối, nêu rõ (đời) phạm hạnh, nghĩa văn viên cụ, hoàn toàn thanh tịnh.

- Dầu chỉ trong một kệ ngôn, Đức Thế Tôn cũng thể hiện kỹ năng thiện thuyết một cách trác tuyệt. Ngay trong câu đầu tiên (paṭhamapada) đã là toàn hảo đoạn đầu. Trong câu thứ hai (dutiyapada) là toàn hảo đoạn giữa. Trong câu thứ ba là toàn hảo đoạn cuối (câu thứ ba hay câu cuối cùng - pacchimapada). Pháp nghĩa trong mỗi câu được diễn đạt súc tích, hàm tàng Hoặc chỉ trong một đoạn kinh (anusandhi) ngay trong phần dẫn nhập đã là toàn hảo đoạn đầu, phần diễn giải chính là toàn hảo đoạn cuối, những gì còn lại là toàn hảo đoạn giữa. Hay trong giữa nhiều đoạn kinh, thì đoạn kinh đầu tiên được gọi là toàn hảo đoạn đầu, đoạn kinh cuối được gọi là toàn hảo đoạn cuối, các đoạn kinh còn lại được gọi là toàn hảo đoạn giữa.

Nói cách khác, gọi là toàn hảo đoạn đầu tức chỉ cho lời dẫn nhập mở đầu của một Phật ngôn, toàn hảo đoạn giữa tức là các Pháp nghĩa được thuyết giảng một cách nhất quán, mạch lạc, có minh họa thiết thực. Toàn hảo đoạn cuối là lối diễn đạt ấy có công năng tạo niềm tin cho người nghe.

Lại nữa, toàn bộ giáo lý của Bậc Đạo Sư được gọi là toàn hảo đoạn đầu, vì trước hết là nói về Giới (Giới được xem là cái toàn hảo căn bản của phạm hạnh-ādibhahmacariya). Cái toàn hảo đoạn giữa là chỉ cho CHỈ, QUÁN, ĐẠO, QUẢ. Còn toàn hảo đoạn cuối là chỉ cho Níp Bàn.

Hay giải cách khác, cái toàn hảo đoạn đầu được chỉ cho Giới, Định. Cái toàn hảo đoạn giữa được chỉ cho Quán và Đạo (Thánh Đạo). Còn toàn hảo đoạn cuối chỉ cho Quả và Níp Bàn. Hoặc toàn hảo đoạn đầu là chỉ cho sự khéo chứng ngộ của Đức Phật. Toàn hảo đoạn giữa là chỉ cho Thiện pháp tánh của Pháp Bảo. Toàn hảo đoạn cuối là chỉ cho sự khéo hành trì của Chư Tăng.

Lại nữa, gọi là toàn hảo đoạn đầu vì nếu người nghe được Giáo lý này biết thực hành theo một cách chín chắn thì có thể đạt đến Phật trí. Toàn hảo đoạn giữa vì Giáo lý này là đạo lộ dẫn đến Độc Giác trí. Toàn hảo đoạn cuối vì Giáo lý này cũng là đạo lộ dẫn tới Thinh Văn Trí.

Nói một cách khác, toàn hảo đoạn đầu tức là chỉ cần nghe được Giáo lý này, người ta cũng đè nén được Pháp cái (nīvaraṇa), đè nén ngay khi đang nghe Pháp. Toàn hảo đoạn giữa tức là khi hành trì theo Giáo lý ấy, người ta sẽ đạt được sự an lạc, an lạc của CHỈ và QUÁN. Toàn hảo đoạn cuối tức là chỉ cho cứu cánh tốt đẹp tối thượng mà người hành trì sẽ đạt được khi đã tu tập đúng mức.

Với những khía cạnh đó, Giáo lý của Bậc Đạo Sư được xưng tụng là Giáo lý Thiện thuyết toàn hảo trọn vẹn: đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối.

Giáo lý của Đức Thế Tôn mang ý nghĩa nêu rõ phạm hạnh pháp, nghĩa văn viên cụ, hàm tận thanh tịnh. Sở dĩ nói như vậy là khi thuyết Pháp, Bậc Đạo Sư luôn đề cao Sāsanabrahmacariya và Maggabrahmacariya . Ngài diễn đạt hai pháp đó theo nhiều lý lẽ, khía cạnh, dựa trên hai tiêu chuẩn: Ý nghĩa và ngôn từ. Nghĩa lý thích đáng, tương ứng. Ngôn từ viên cụ.

Lại nữa, sở dĩ gọi là "nghĩa viên cụ" vì trong mỗi câu nói ngắn gọn của Bậc Đạo Sư luôn có ý nghĩa cô đọng, súc tích, hàm tàng. Trong từng bài giảng dài, trong mỗi điều ban hành, chế định cũng thế. "Văn viên cụ" nghĩa là trong từng câu nói, văn tự không thiếu, không dư từng chữ (akkhara), từng câu (pada) vô cùng chính xác. Mỗi Phật ngôn đều viên cụ về các chi tiết: Akkhara, pada, byađjana, ākāra, nirutti, niddesa.

Giải theo cách khác, nghĩa viên cụ vì các Giáo lý này đều vô cùng thâm sâu trên cả khía cạnh ý nghĩa và khía cạnh thực chứng (paṭivedha). Văn viên cụ vì dụng ngữ của Ngài thâm sâu về Pháp lẫn về cách thức thuyết giảng.

Lại nữa, nói là nghĩa viên cụ vì các giáo lý này thuộc lãnh vực (visaya) của nghĩa-vô-ngại-trí và Biện-vô-ngại-trí. Gọi là "văn viên cụ" vì nói trên khía cạnh chúng thuộc lãnh vực Pháp vô ngại trí và từ vô ngại trí.

Hai phạm hạnh pháp (Sāsanabrahmacariya và Maggabrahmacariya) ấy là những cái mà chỉ có người trí mới hiểu được, khi suy nghiệm kỹ lưỡng chúng, người ta sẽ có tâm tịnh tín, đó là nghĩa viên cụ, cách thức trình bày sao cho người ta đặt lòng tin, thì gọi là văn viên cụ.

Gọi là nghĩa viên cụ, vì Giáo lý này nhắm vào ý nghĩa thâm sâu. Gọi là Văn viên cụ vì Giáo lý này có lối văn tự diễn đạt thật trong sáng.

Gọi là hàm tận tức giáo lý này chứa đầy toàn bộ mọi khía cạnh Pháp nghĩa, không thiếu sót điều gì, không thể thêm cái gì vào được nữa.

Gọi là thanh tịnh vì Giáo lý này hoàn toàn không có khuyết điểm (dosa) không thể loại bỏ được điều nào cả.

Lại nữa, gọi là nghĩa viên cụ vì tính cách minh bạch của những cái chỉ có thể chứng đạt bằng sự tự thực hành. Gọi là văn viên cụ, là chỉ cho lối trình bày trong sáng của Giáo lý. Gọi là hàm tận (Kevalaparipuṇṇa) vì trong Giáo lý này có đủ ngũ uẩn Pháp thân. Gọi thanh tịnh (pārisuddhi) vì Giáo lý này nằm ngoài mọi cấu uế, nhắm đến lợi ích xuất ly (sinh hữu), không hướng tới Lokāmisa (thế lợi). Nói tóm lại, Pháp học được gọi là khéo thuyết vì nội dung đề cao Phạm hạnh, nghĩa văn cụ túc, hàm tận, thanh tịnh.

Lại nữa, gọi là Thiện thuyết vì Giáo lý này không có sự sai chạy về ý nghĩa. Chẳng hạn như đối với Giáo lý của các ngoại đạo sư luôn có sự sai chạy, nhầm lẫn, vì điều nào họ nói là sai quấy (antarāya) thì điều đó chưa hẳn đã là sai quấy, đạo lộ mà họ nói là ngõ xuất ly thì chưa hẳn đó là ngõ xuất ly. Cho nên giáo lý của các ngoại đạo sư được gọi là giáo lý vụng thuyết (durākkhāta).

Riêng về Giáo lý của Bậc Đạo Sư thì không bao giờ có sự sai chạy, lầm lẫn trong ý nghĩa như vậy cả. Điều nào Ngài khẳng định là pháp sai quấy thì chắc chắn đó là pháp sai quấy, điều nào Ngài khẳng định là đạo lộ xuất ly thì đó chính là đạo lộ xuất ly, không sai chạy. Với những khía cạnh trên, pháp học được gọi là pháp khéo thuyết.

Tại sao nói rằng Pháp Siêu Thế là Pháp khéo thuyết? Vì trong Giáo lý này, Bậc Đạo Sư nêu rõ đạo lộ hành trì tương ứng với cứu cánh Níp Bàn, Ngài tuyên thuyết về Níp Bàn tương ứng với đạo lộ hành trì. Như các vị A Xà Lê cũng nói rằng: Bậc Đạo Sư đã khéo nêu rõ đạo lộ dẫn đến Níp Bàn cho các đệ tử một cách tương ứng, cả đạo lộ lẫn cứu cánh đều nhất quán với nhau, cũng như hai dòng sông Gaṅgā và Yamunā có chỗ giao lưu với nhau thế nào thì đạo lộ dẫn đến Níp Bàn cũng đã được Đức Thế Tôn tuyên thuyết thích ứng với Níp Bàn như vậy.

Lại nữa, Thánh Đạo do Đức Thế Tôn khéo tuyên thuyết, là con đường Trung Đạo, không thiên về cực đoan nào trong hai cực đoan, nên được gọi là Giáo lý khéo thuyết, một đạo lộ trung dung. Các Thánh Quả (sāmađđaphala-sa môn quả) được gọi là pháp khéo thuyết, vì đó là (những cái nói lên được chung điểm của phiền não) những thành tựu nói lên được sự tỉnh hóa phiền não. Níp Bàn được gọi là pháp khéo thuyết vì đó là pháp tánh nói lên được sự bất tử, bất hoại, thường tại, hằng hữu. Với những khía cạnh đó, Pháp Siêu Thế được gọi là Pháp Thiện thuyết.

SANDIṬṬHIKA: CẦN ĐƯỢC THỰC KHÁN, LIỄU THỊ

Ở đây (nói) nhắm vào Thánh Đạo. Thánh Đạo cần phải được mọi người đoạn trừ phiền não thực chứng. Chính vì vậy giáo lý này được gọi là Sandiṭṭhika (Pháp cần được trực thị) như trong Tikanipāta Aṅguttaranikāya , Đức Phật đã dạy:

"Này Bà la môn! Người còn bị tham dục thống ngự thì luôn có những tư duy bất lợi cho mình, cho người và cho cả hai, tâm tư người ấy bị cảm thọ với những khổ ưu. Khi đã từ bỏ tham ái, người ta sẽ không còn có những tư duy bất lợi cho mình, cho người, cho cả hai và tâm tư người ta sẽ không còn bị cảm thọ các khổ ưu nữa. Này Bà la môn! Đó là Pháp cần phải trực thị, thực khán vậy".

Hay giải cách khác, 9 Pháp Siêu Thế được gọi là pháp Sandiṭṭhika, vì sự chứng ngộ chúng không phải là niềm tin vay mượn từ kẻ khác, muốn quán triệt các pháp ấy, người ta phải dùng đến Phản khán trí của chính bản thân.

Lại nữa, tiếng Sandiṭṭhi có nghĩa là sự nhìn thấy một cách chín chắn, đúng đắn, cái thấy mà được chư Thánh nhân nhìn nhận. Pháp nào chiến thắng phiền não bằng cái nhìn chín chắn thì được gọi là sandiṭṭhika . Mà ở đây, các Pháp Siêu Thế lại là những pháp chiến thắng phiền não bằng cái nhìn chín chắn đó, cái nhìn tương ứng với Thánh Đạo, nên Pháp Siêu Thế được gọi là Sandiṭṭhika.

(Về vấn đề này, trong Ṭīkā giải như sau Ariyamaggo attanā sampayuttāya sandiṭṭhiyā kilese jayati, ariyaphalaṃ tāya-eva, attano kāraṇabhūtāya nibbānaṃ ārammaṇaṃ karaṇena attano visayībhūtāya sandiṭṭhiyā kilese jayati: Thánh Đạo luôn khắc trừ phiền não bằng cái thực kiến tương ưng với nó, Thánh quả cũng khắc trừ phiền não bằng cái thực kiến ấy, nhưng trên khía cạnh lấy nó làm cơ năng tác động. Níp Bàn cũng có tính chất khắc trừ phiền não bằng cái thực kiến nhưng trên phương diện thực tại tự tánh).

Nói tóm lại, Pháp Siêu Thế là pháp sandiṭṭhiko vì chúng chiến thắng phiền não bằng cái thực kiến, cái nhìn chín chắn mà ậc Thánh nhân tán đồng. Cũng như gọi là xa binh vì đó là binh chủng đánh trận bằng xa.

Lại nữa, diṭṭhi là sự nhìn thấy, cái nhìn thấy. Tiếng diṭṭhi đồng nghĩa với sandiṭṭhi. Mà Thánh Đạo là pháp cần được nhìn thấy nên mới gọi là sandiṭṭhika (ứng thị).

Thật vậy, một khi người ta đã liễu thị Pháp Siêu Thế bằng sự tu tập (đào luyện) và chứng ngộ thì cũng luôn đẩy lùi được đại nạn sinh tử, cho nên Pháp Siêu Thế được gọi là sandiṭṭhika.

AKĀLIKO: KHÔNG BỊ GIÁN ĐOẠN THỜI GIAN

Ở đây muốn nói là sự cho quả của giáo lý này, không phải mất thời gian (akāla). Tiếng akāla đồng nghĩa với akāliko . Các Ngài giải thích rằng, Pháp này không phải đợi đến vài ba ngày mới cho quả, mà lại cho quả tức khắc, không bị gián đoạn thời gian trong quá trình kết tựu.

Một lẽ nữa, Pháp nào có khoảng cách thời gian trước khi trổ quả thì Pháp ấy gọi là kālika (có gián đoạn thời gian), như đối với Pháp Thiện hiệp thế. Riêng về Thánh Đạo thì được gọi là akālika vì nó cho quả ngay tức khắc không có khoảng cách thời gian. Pháp akāliko chỉ cho Tâm Đạo.

EHIPASSIKO: SẴN SÀNG VỚI MỌI TRẮC NGHIỆM

Ở đây, 9 Pháp Siêu Thế được gọi là (những) pháp "sẵn sàng với mọi trắc nghiệm-ehipassavidhī" bởi vì chúng mang thực tính như chân và thanh tịnh.

Đối với một món đồ giả thì không bao giờ sẵn sàng với mọi trắc nghiệm hay thách thức trắc nghiệm. Hay cũng không có ai lại ngang nhiên trưng bày một uế vật như phẩn, nước tiểu bao giờ. Còn các Pháp Siêu Thế thì hoàn toàn như chân và thanh tịnh, như mặt trăng giữa bầu trời không mây, hoặc cũng giống như viên kim cương trên tấm lụa kambala màu đỏ, luôn có tính chất thách thức với mọi trắc nghiệm, nên được gọi là Ehipassiko.

OPANAYIKO: ỨNG DẪN NHẬP

Ở đây, tiếng Opanayika được phân tích như sau: upanaya là sự dẫn vào, người điều dẫn tâm mình bằng cách tu tập (bhāvanā) thì được gọi là upanayika hay opanayika. Vậy tiếng opanayika ở đây chỉ cho Pháp Siêu Thế hữu vi (saṅkhata). Còn Pháp Siêu Thế vô vi cũng được gọi là opanayika, nhưng hiểu thêm ý nghĩa đó là pháp cần được đưa vào tâm tư bằng sự chứng ngộ (sacchikata). Hoặc giải cách khác, Thánh Đạo được gọi là Opanayika vì nó có tính chất dẫn nhập Níp Bàn. Thánh quả và Níp Bàn cũng được gọi là opanayika (hay upaneyya) theo ý nghĩa là pháp cần được thể nhập bằng sự tác chứng.

PACCATTAṂ VEDITABBO VIÑÑŪHI

Pháp này đòi hỏi một sự chứng ngộ của tự bản thân, không thể là sự chứng ngộ vay mượn. Thánh Đạo của thầy tế độ không thể đoạn trừ phiền não cho đệ tử, người đệ tử không thể lạc trú bằng Thánh Quả của thầy tế độ hay cũng không thể nhờ cậy thầy tế độ tác chứng Níp Bàn dùm được. Cho nên pháp này được gọi là pháp mà người trí cần phải tự ngộ.

LỢI ÍCH CỦA SỰ TÙY NIỆM PHÁP

Khi hành giả suy tưởng ân đức Pháp Bảo như vậy thì các phiền não được lắng dịu, triền cái được đè nén, các chi thiền sẽ khởi lên, tâm tư hành giả tập trung hướng về lý pháp. Nhưng vì ân đức Pháp quá thâm sâu, cũng như hành giả phải bận tâm suy xét tường tận từng khía cạnh của pháp ân, nên không thể tiến đạt Kiên cố định. Đề mục tùy niệm Pháp chỉ dẫn đến cận định mà thôi.

Khi tùy niệm Pháp như vậy, hành giả cũng là người tỏ ra cung kính Bậc Đạo Sư, vì nghĩ rằng: Dù ta chưa từng được diện kiến Bậc Đạo Sư, người đã tuyên thuyết những Pháp này, nhưng chắc chắn không có ai khác ngoài ra Ngài có thể tuyên thuyết như vậy. Nhờ tùy niệm Pháp, hành giả sẽ dồi dào niềm tin, dồi dào hỷ duyệt, có năng lực chịu đựng được mọi kinh hoàng, sợ hãi, có thể chịu đựng được nỗi khổ, nhờ khắn khít vào Pháp. Thân thể của người tùy niệm Pháp là vật đáng cúng bái như một ngôi Bảo Tháp vậy, tâm tư hành giả có chiều hướng chứng đạt tối thượng Pháp, vì khi tùy niệm Pháp thì Tàm, Quý sẽ khởi lên kịp thời để đối phó mọi thử thách, cám dỗ. Nếu không chứng đạt Thượng Nhân Pháp thì sau khi lâm chung, hành giả sẽ được tái sanh thiện thú.

Cho nên bậc Thiện trí chớ dễ duôi trong việc tùy niệm Pháp, dù bất cứ lúc nào cũng vậy. Đó là những gì cần giải về đề mục tùy niệm Pháp.

 


← 4 5 6 →

Nguồn: Ngõ Vào Nội Tại
(Tỳ khưu Huyển Đạt lược dịch)
Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.

© www.tudieu.de