www.tudieu.de

Ngõ Vào Nội Tại - Ghi chú

← 3 Trang Đầu 5 →


ANUSSATIKAMMAṬṬHĀNA


  1. Buddhānussati
  2. Dhammānussati
  3. Saṅghānussati
  4. Sīlānussati
  5. Cāgānussati
  6. Devatānussati
  7. Maraṇānussati
  8. Kāyagatāsati
  9. Ānāpānasati
  10. Upasamānussati


1- BUDDHĀNUSSATI


Muốn tu tập đề mục này, hành giả nên tìm đến một chỗ vắng vẻ, kín đáo thật thích hợp, rồi suy tưởng về ân đức của bậc Đạo Sư rằng: "Đức Thế Tôn ấy là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Đà, Cụ thoại đức giả."
‘‘itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā’’ti

Ý nghĩa của hồng danh Arahaṃ

Hành giả tưởng niệm hồng danh Arahaṃ như sau: "Sở dĩ Đức Phật được gọi là bậc A La Hán, vì Ngài đã tránh xa kẻ thù, khắc trừ kẻ thù, đã bẻ gãy bánh xe sinh tử luân hồi, là vị xứng đáng với mọi sự cúng bái, là vị không có những ác hành khuất lấp".

- Tại sao nói Ngài là vị đã tránh xa kẻ thù?

Vì Ngài đã hoàn toàn viễn ly tất cả phiền não cùng các tập khí (vāsanā) sanh tử bằng Thánh Đạo. Ngài là bậc vượt ngoài mọi tạp loạn phiền não, tạp loạn của lỗi lầm, Ngài là chỗ nương nhờ của đời. Các bậc thiện trí dựa vào những pháp tánh đó của Ngài nên đã xưng tụng Ngài là bậc đã viễn ly kẻ thù.

- Tại sao nói Đức Phật là bậc đã khắc trừ kẻ thù?

Bởi vì, Ngài đã phá hủy tất cả phiền não đối nghịch bằng Thánh Đạo, bằng vũ khí trí tuệ.

- Tại sao nói Đức Phật là vị đã bẻ gãy bánh xe sanh tử? Là vì Ngài đã phá hủy được cái bánh xe mà đùm được chế tạo bằng vô minh và hữu ái, căm xe là hành (ba hành trong duyên sinh), vành xe là lão tử, trục xe là ái tập (samudaya) và các lậu. Tất cả những món phụ tùng ấy được lắp ráp vào nhau để ghép vào cỗ xe Tam giới, lăn bánh đi từ vô thủy luân hồi. Đức Thế Tôn đã đứng trên Giới địa (mặt đất Giới) bằng đôi Cần túc (chân tinh tấn) rồi dùng Tín thủ (cánh tay đức tin) nắm lấy Tuệ phủ (cây búa trí tuệ) đập gẫy các cây căm và phá hư bánh xe đó ngay tại gốc Bồ Đề Thọ.

Hay nói cách khác, vòng luân hồi vô thủy vô chung được gọi là bánh xe sinh tử. Bánh xe ấy lấy vô minh làm đùm, vì vô minh là căn cội cho tất cả lão tử là vành xe, vì chúng là kết quả tối hậu của các duyên sinh. Còn 10 duyên sinh kia thì làm những cây căm trong bánh xe đó, vì chúng lấy vô minh làm cứ điểm căn cội và lấy lão tử làm chung điểm tối hậu.

Lý duyên sinh (đại lược)

Sự không liễu tri Tứ Đế gọi là Vô minh. Vô minh trong dục hữu hằng làm duyên cho Hành trong dục hữu (kāmabhava). Vô minh trong sắc hữu hằng làm duyên cho Hành trong sắc hữu. Vô minh trong Vô Sắc hữu hằng làm duyên cho Hành trong vô sắc hữu. Hành trong ba hữu hằng làm duyên cho Thức tái tục trong ba hữu.

- Thức tái tục trong Dục hữu và Sắc hữu hằng làm duyên cho Danh sắc trong Dục hữu và Sắc hữu. Còn thức tái tục trong Vô sắc hữu thì hằng làm duyên cho danh trong Vô sắc hữu.

- Danh sắc trong dục hữu hằng làm duyên cho 6 xứ trong dục hữu. Danh sắc trong Sắc hữu hằng làm duyên cho 3 xứ trong Sắc hữu. Danh trong Vô sắc hữu hằng làm duyên cho nhất xứ trong Vô sắc hữu.

- Sáu xứ trong Dục hữu hằng làm duyên cho 6 xúc trong Dục hữu. Ba xứ trong Sắc hữu hằng làm duyên cho 3 xúc trong Sắc hữu. Nhất xứ trong vô sắc hữu hằng làm duyên cho nhất xúc trong vô sắc hữu.

- Lục xứ trong Dục hữu hằng làm duyên cho Lục thọ trong dục hữu. Ba xúc trong Sắc hữu hằng làm duyên cho 3 thọ trong sắc hữu. Nhất xúc trong vô sắc hữu hằng làm duyên cho nhất thọ trong vô sắc hữu.

- Sáu thọ trong Dục hữu hằng làm duyên cho 6 ái trong dục hữu. Ba thọ trong Sắc hữu hằng làm duyên cho 3 ái trong sắc hữu. Nhất thọ trong vô sắc hữu hằng làm duyên cho nhất ái trong vô sắc hữu.

- Ái trong ba hữu ấy hằng làm duyên cho thủ trong ba hữu ấy.

- Các thủ ấy hằng làm duyên cho các hữu.

Về vấn đề này, ta cần phải minh họa cho dễ hiểu như sau:

Có người trong đời này muốn thụ hưởng dục lạc, vì dục thủ ấy làm duyên tác động nên người ta tạo các ác hạnh về thân, khẩu, ý. Do làm các ác hạnh nên họ phải chịu sanh vào ác đạo, nghiệp dẫn tới sanh thú ấy được gọi là nghiệp hữu. Các uẩn mà (được) hình thành nhờ nghiệp ấy được gọi là sanh hữu (uppattibhava). Giai đoạn xuất hiện của các uẩn ấy được gọi là Sanh, giai đoạn cằn cỗi của các uẩn ấy được gọi là Lão, giai đoạn tán hoại của các uẩn ấy được gọi là Tử.

Có người trên đời này, muốn hưởng lạc thú Thiên giới, vì dục thủ ấy làm duyên tác động, họ tạo các thiện hạnh về thân, khẩu, ý, nhờ vậy họ được sanh lên thiên giới. Ở đây, nghiệp dẫn sanh lên thiên giới ấy chính là nghiệp hữu… (như trên).

Rồi có một hạng người khác, muốn hưởng lạc Phạm thiên giới, vì dục thủ ấy làm duyên tác động, nên họ tu tập 4 Phạm trú và nhờ vậy được sanh lên Phạm thiên giới, nghiệp dẫn sanh Phạm thiên giới ấy được gọi là nghiệp hữu…

Có một hạng người khác nữa muốn được hưởng lạc Vô sắc giới và vì dục thủ ấy làm duyên tác động, nên họ tu tập các đề mục Vô sắc cho thành mãn. Nhờ vậy được sanh lên các cõi Vô sắc giới. Nghiệp dẫn đến sanh Vô sắc giới ấy được gọi là nghiệp hữu… Tính chất làm duyên tác động của các Thủ còn lại cũng giống như vậy (người đọc cần phải tự triển khai lấy) theo khuôn mẫu tương tự.

Theo hệ thống này, vô minh được gọi là nhân, Hành được gọi là cái xuất sanh từ nhân. Đồng thời, cả hai Vô minh và Hành ấy vừa là nhân mà cũng vừa là những cái xuất sanh từ nhân. Trí tuệ thấu triệt (được) nguyên lý nhân duyên này, được gọi là Dhammaṭṭhitiđāṇa. Vô minh quá khứ và vô minh vị lai là Nhân, còn Hành mà xuất sanh từ hai vô minh đó thì vừa là nhân mà cũng vừa là cái xuất sanh từ nhân. Trí tuệ thấu đáo nguyên lý nhân duyên này cũng được gọi là Dhammaṭṭhitiđāṇa.

Sau đây là phần giải rộng về những gì vừa nói trên.

Trong hệ thống Y tương sinh (duyên sinh), vô minh và hành được gom vào một đại lược (saṅkhepa). Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ được gom vào một đại lược. Aùi thủ, hữu được gom vào một đại lược. Sanh, lão, tử được gom vào một đại lược. Trong bốn đại lược đó, đại lược đầu được xếp vào thời quá khứ (atītaddhā), hai đại lược giữa được xếp vào thời hiện tại (paccuppannaddhā) và đại lược cuối cùng được xếp vào thời vị lai (anāgataddhā).

Ở đây vô minh, hành, ái, thủ, hữu được kể là nghiệp luân hồi quá khứ. Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ được kể là quả luân hồi hiện tại. Rồi ái, thủ, hữu, vô minh, hành tiếp đó được kể là nghiệp luân hồi hiện tại, còn 5 duyên sinh kia thì lại được kể là quả luân hồi vị lai bằng cách kể thêm sanh, lão, tử vào.

Nói về chi (ākāra) thì trong toàn bộ hệ thống duyên sinh này có tất cả 20 chi. Từ hành tới thức được gọi là một hệ trục (sandhi), từ ái tới thọ là một hệ trục, từ hữu tới sanh là một hệ trục.

Đức Thế Tôn đã thông đạt, quán triệt, thấu đáo nguyên lý duyên sinh qua 4 đại lược, 3 thời, 20 chi và 3 hệ trục như vậy. Cái hiểu biết ấy được gọi là trí, bởi dựa vào ý nghĩa là biết bằng tuệ, sự minh thị rõ ràng. Các Ngài gọi trí tuệ về lý (trong) duyên sinh là Dhammaṭṭhitiđāṇa, Bậc Đạo Sư đã như thật chứng ngộ các pháp duyên sinh này, Ngài nhàm chán, yếm ố, khước từ chúng rồi công phá, đập nát các căm của bánh xe sinh tử này, cho nên Ngài được gọi là bậc A La Hán. Hay nói cách khác, vì Ngài đã dùng thanh gươm trí tuệ phá nát các căm xe của sinh tử luân, nên các bậc thức giả xưng tụng Ngài là bậc A La Hán.

- Tại sao nói Đức Thế Tôn là bậc xứng đáng với mọi sự cúng bái? Bởi Ngài là đối tượng thí tối thượng (nếu so sánh Ngài với bất cứ một cá nhân nào khác), kể từ khi Ngài xuất hiện trên đời, chư thiên và loài người đều tập trung mọi sự lễ bái cúng dường đặc biệt nhất về cho Ngài, không ngó ngàng gì tới đối tượng khác một cách tương đương như vậy. Chính Phạm thiên Sahampati đã dâng đến Ngài một vòng ngọc maṇi to như núi Tu Di. Còn đối với những vị trời và loài người khác như vua Bimbisāra, vua Kosala đều tùy khả năng mình mà cúng dường lễ bái Ngài hết mức. Vua A Dục đã hướng tâm đến Bậc Đạo Sư mà cúng dường 90 koṭi tiên, dù lúc đó Ngài đã Níp Bàn. Vua A Dục còn tạo 84 ngàn ngôi tháp ở khắp nơi để cúng dường Xá Lợi của Ngài, cùng nhiều hành động tín mộ đặc biệt khác nữa. Vì vậy Bậc Đạo Sư được gọi là vị A La Hán, nói tóm lại vì Ngài là vị xứng đáng với mọi sự lễ bái cúng dường đặc biệt nhất nên được xưng tụng là vị A La Hán.

- Tại sao nói Đức Phật là vị không có những ác hành khuất lấp? - Kẻ thiếu trí trên đời này cứ ngỡ mình là hiền trí nên nếu có m gì sai quấy, đê hèn cũng tìm vào chỗ kín đáo, vắng vẻ vì sợ tai tiếng. Còn đối với Bậc Đạo Sư thì dù ở đâu, bất cứ lúc nào, Ngài cũng không bao giờ làm điều gì sai quấy lầm lỗi cả, dù nhỏ nhen nhất đi nữa. Nói tóm lại Bậc Đạo Sư không có một hành động dấu diếm, khuất lấp nào dù lớn nhỏ, cho nên được xưng tụng là A La Hán.

Vị hành giả hiền trí nên suy tưởng ân đức của Bậc Đạo Sư qua ý nghĩa của hồng danh A La Hán như sau: Đấng Mậu Ni ấy được gọi là Arahaṃ vì Ngài đã hoàn toàn viễn ly các kẻ thù phiền não, đã khắc trừ kẻ thù phiền não, đã bẻ gãy bánh xe sinh tử, Ngài là bậc xứng đáng với mọi sự cúng bái, là bậc không có những sở hành lầm lỗi, khuất lấp.

Ý nghĩa của hồng danh Sammāsambuddha

Đức Thế Tôn được xưng tụng là bậc Sammāsambuddha, vì Ngài đã TỰ MÌNH chứng ngộ một cách CHÂN CHÁNH tất cả các pháp. Ngài đã thắng tri tất cả những gì cần được thắng tri, đã thông đạt tất cả những pháp gì cần thông đạt, đã chứng ngộ những gì cần phải từ bỏ, cần phải làm cho tỏ ngộ, cần phải làm cho lớn mạnh. Chính Ngài cũng đã xác nhận:

- "Này Bà la môn! Những gì cần phải thắng tri ta cũng đã thắng tri, những gì cần phát triển ta cũng đã phát triển, những gì cần phải từ bỏ ta cũng đã từ bỏ. Cho nên ta được gọi là đấng Phật Đà"

Lại nữa, Đức Thế Tôn đã tự mình chứng ngộ một cách chân chánh tất cả các pháp theo từng chi tiết. Tức là Ngài liễu tri vạn pháp trên mọi khía cạnh tinh tế, sâu sắc nhất: Mắt là Khổ đế, tham ái cố hữu làm sở sanh24 cho nó, làm tập Đế cho Khổ đế ấy. Sự vắng mặt của hai đế ấy là Diệt đế. Đạo lộ dẫn tới Diệt đế là Đạo đế. Đối với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng như vậy (sự mất còn của chúng cũng diễn ra theo khuôn mẫu tương tự). 6 xứ, 6 thức, 6 xúc, 6 thọ, 6 tưởng, 6 tư, 6 ái, 6 tầm, 6 tứ, 5 uẩn, 10 kasiṇa, 10 anussati, 10 bất mỹ tưởng, 32 thể trược, 12 xứ, 18 giới, 9 hữu, 4 thiền Sắc giới, 4 phạm trú, 4 Vô sắc định (arūpasamāpatti) và lý duyên sinh thuận nghịch (anuloma: vô minh) lão tử, patiloma: lão tử-vô minh) cũng có nghĩa lý theo hệ thống như trên.

Đức Thế Tôn đã đem Lý Tứ Đế phổ vào tất cả những Pháp đó, Ngài thông đạt, đổng triệt, liễu tri tất cả một cách chi tiết như thế bằng sự chứng ngộ chân chánh của chính mình, cho nên Ngài được gọi là bậc Sammāsambuddho.

Ý nghĩa của hồng danh Vijjācaraṇasampanno

Đức Thế Tôn được xưng tụng là Bậc Minh Hạnh Túc vì Ngài đã viên cụ các Minh và Hạnh.

Minh ở đây phân 3 cũng được, 8 cũng được (tức là có 3 hoặc có 8). Tam Minh là Túc mạng minh, Sinh tử minh và Lậu tận minh, còn Bát Minh là Lục thông cộng thêm Tuệ quán trí và Ý hóa thông (manomayiddhi). Muốn tìm hiểu về Tam Minh rộng rãi nên xem trong bài kinh Bhayabheravasutta, còn Bát Minh thì cũng đã được giải rõ trong Ambaṭṭhasutta (dīghanikāya).

Hạnh ở đây có 15 là sīlasaṃsara, indriyesu guttadvāratā, bhojane-mattađđutā, jāgariyānuyoga, 7 saddhamma (saddhā, hiri, ottappa, bāhusacca, viriya, sati, pađđā) và 4 tầng thiền sắc giới (rūpāvacarajhāna). Các Pháp này được gọi là Caraṇa vì chúng là phương tiện dẫn đến Bất Tử (amatadisa), như Bậc Đạo Sư đã dạy: "- Này Mahānāma, vị Thánh đệ tử trong Pháp luật này là người có giới hạnh…" muốn rõ hơn nên xem trong Majjhimapaṇṇāsaka.

Đức Thế Tôn là Bậc viên cụ các Minh và Hạnh ấy nên được gọi là Vijjācaraṇasampanno.

Ta cần phải hiểu thêm về tính chất đặc biệt của Minh và Hạnh. Minh là tiêu chuẩn khẳng định Toàn Giác Tuệ của Bậc Đạo Sư , còn Hạnh thì khẳng định lòng Đại Bi của Ngài, với Nhất Thiết Trí (Toàn Giác Tuệ) Đức Thế Tôn biết rõ những gì có lợi ích, không có lợi ích đến chúng sanh, với lòng đại bi, Ngài bỏ đi những gì không lợi ích và chọn lấy điều lợi ích để hướng dẫn chúng sanh.

Cho nên đệ tử của Ngài là những vị hành trì tốt đẹp không phải không tốt đẹp, bởi Ngài là một Đấng Đạo Sư đầy đủ Minh, Hạnh.

Ý nghĩa của hồng danh Suggato

Đức Thế Tôn được gọi là Đấng Thiện Thệ bởi Ngài là Bậc có con đường đi thật đẹp, Ngài đi đến chỗ thật đẹp, Ngài đã đi đúng con đường, là bậc khéo thuyết giảng.

- Tại sao nói Đức Phật là Bậc có con đường đi thật đẹp?

Bởi vì con đường mà Ngài đã đi ấy, thanh tịnh và không có lỗi lầm. Con đường ấy là gì? Là Thánh Đạo vậy. Vì Ngài đã ngự đến nơi bình an (khemadisa) bằng con đường ấy nên được gọi là Bậc có con đường đi thật đẹp.

- Tại sao Đức Phật được gọi là Bậc đi đến mục đích thật đẹp?

Vì Ngài đã đạt đến Níp Bàn bất tử.

- Tại sao Đức Phật lại được gọi là Bậc đã đi đúng con đường?

Vì Ngài đã không trở lui trong phiền não mà mình đã từ bỏ bằng Thánh Đạo, với những phiền não Sơ Đạo ứng trừ, Ngài không còn trở lại với nó nữa. Cũng vậy, đối với các phiền não đạo cao ứng trừ, Ngài cũng vĩnh viễn từ bỏ, chẳng còn trở lại với chúng nữa, nên được gọi là bậc đi đúng đường.

Lại nữa, sở dĩ Ngài được gọi là Bậc đi đúng đường vì Ngài đã sống vị tha bằng cách hành trì chín chắn 30 pháp độ kể từ thời kỳ Đức Phật Dīpaṅkara Cho đến khi trí tuệ thật sự tinh thục.

Trong sự hành trình đó, Ngài đã không lầm đường lạc lối trong tà kiến Thường hay Đoạn, cũng như đã không bị quanh quẩn trong Kāmasukha (dục lạc) một cách trầm trọng, cho nên Ngài được gọi là Bậc đi đúng đường.

- Tại sao Đức Phật được gọi là Bậc khéo thuyết giảng (hay bậc có lời nói chín chắn)? Bởi vì Ngài chỉ nói những gì đúng đắn, hợp lý trong một thời điểm thích hợp mà thôi. Trong Chánh Tạng cũng đã giải rõ về điểm này như sau: "Những điều nào mà Đức Như Lai biết là phi chân, vô ích, không hợp với sở thích của người nghe thì Ngài không bao giờ nói. Điều nào Ngài biết rằng như chân, nhưng vô ích và không hợp với sở thích người nghe, Ngài cũng không nói. Điều nào mà Đức Như Lai biết là như chân, hữu ích nhưng không hợp với sở thích người nghe Ngài cũng không nói. Điều nào Đức Như Lai biết là phi chân, vô ích nhưng hợp với sở thích người nghe, Ngài cũng không nói. Điều nào mà Đức Như Lai biết là như chân nhưng vô ích thì dù có hợp với sở thích của người nghe Ngài cũng không nói. Điều nào mà Đức Như Lai biết là như chân, hữu ích và hợp với sở thích của người nghe thì Ngài mới tìm một cơ hội thuận tiện để nói, bởi Ngài là bậc biết rõ thời điểm thích hợp để nói những lời thích hợp26". Vì vậy, Bậc Đạo Sư được xưng tụng là vị khéo thuyết giảng, là vị có lời nói chín chắn.

Ý nghĩa của hồng danh Lokavidū

Sở dĩ Đức Phật có hồng danh là Lokavidū vì Ngài là bậc hiểu biết thế gian một cách toàn diện và chi tiết. Hiểu biết một cách toàn diện và chi tiết tức là Ngài thông đạt được thế gian này qua các phương diện (khía cạnh) Thực tánh (sabhāva), Tập khởi (samudaya), sự vắng mặt (nirodha) và ngõ dẫn tới sự vắng mặt ấy, như chính Đức Phật đã xác nhận như sau trong Chánh Tạng:

"Này hiền giả (āvuso)! Ta nói rằng các chúng sanh không thể nào đi đến chỗ tận cùng của thế gian, chỗ không có sự sanh, già, đau, chết hay có thể tìm hiểu, nghiên cứu, quan sát chỗ ấy bằng sự bộ hành được, Ta chưa bao giờ nói điều đó.

Lại nữa, này hiền giả, ta cũng chưa bao giờ nói về khởi nguyên và sự tận cùng của thế gian. Trong tấm thân dài một trượng có tưởng và tâm này, ta chỉ tuyên thuyết về thế gian, tập khởi của thế gian, sự tận diệt của thế gian và đạo lộ dẫn đến sự tận diệt đó. Ta nhắc lại, không một ai có thể đi đến chỗ tận cùng của thế gian này bằng sự bộ hành cả, tuy nhiên cũng không có ai chưa đi đến chỗ tận cùng của thế gian này mà lại có thể thoát khỏi đau khổ27". Đức Thế Tôn là bậc hiền trí, Ngài đã đạt tri thế gian này, đã đạt đến điểm tận cùng của thế gian, Ngài đã hoàn mãn đời phạm hạnh, đã tỉnh hóa bản thân nên Ngài không còn một ước vọng gì ở đời này hay đời sau nữa.

Danh từ Loka (thế gian) có 3 nghĩa: Saṅkhāraloka và sattaloka Mà Đức Thế Tôn lại là bậc thông suốt cả 3 loka ấy.

A- SAṄKHĀRALOKA

Đức Phật quán triệt được các khía cạnh của Saṅkhāraloka như sau: Nếu nói có 1 thì saṅkhāra chỉ cho tất cả chúng sanh nào còn sống bằng vật thực. Nếu có nói 2 thì chỉ cho Danh sắc, nếu có nói 3 thì chỉ cho 3 thọ, nếu nói có 4 thì chỉ cho Tứ thực, nếu nói có 5 thì chỉ cho 5 thủ uẩn, nếu nói có 6 thì chỉ cho 6 nội xứ, nếu nói có 7 thì chỉ cho 7 thức trú, nếu nói có 8 thì chỉ cho 8 thế gian pháp, nếu nói có 9 thì chỉ cho 9 hữu tình cư, nếu nói có 10 thì chỉ cho 10 xứ, nếu nói có 12 thì chỉ cho 12 xứ, nếu nói có 18 thì chỉ cho 18 giới.

B- SATTALOKA

Đức Phật biết rõ tất cả tiềm tánh phiền não (āsayānusaya) của chúng sanh, biết rõ căn tánh (carita) và thiên hướng tánh (adhimutti) của chúng sanh: Kẻ này có ít trần cấu, người kia có nhiều trần cấu, kẻ này có pháp quyền mạnh mẽ, kẻ kia có pháp quyền non yếu, kẻ này dễ giáo hóa, người kia khó giáo hóa…

C- OKĀSALOKA

Đối với Sattaloka, Đức Phật hiểu biết thấu đáo, chi tiết, sâu sắc thế nào thì về Okāsaloka Ngài cũng đổng triệt một cách thấu đáo, chi tiết, sâu sắc như vậy. Ngài đã biết rõ rằng mỗi cakkavāla dài và rộng 12 ức 3 ngàn 450 do tuần (tức là một triệu hai trăm lẻ ba ngàn bốn trăm năm mươi do tuần) nhưng vòng tròn bao quanh cakkavāla thì có tới 36 ức 10 ngàn 3 trăm 50 do tuần (tức là ba triệu sáu trăm lẻ mười ngàn ba trăm năm mươi do tuần).

Nằm trong cakkavāla ấy, quả địa cầu này có đường kính là hai trăm bốn mươi ngàn do tuần và nó được nằm trên mặt nước. Mặt nước có độ sâu là bốn trăm tám mươi ngàn do tuần, và lại được an lập trên một lớp gió. Lớp gió ấy thổi ngược lên trên được chín trăm sáu mươi ngàn do tuần. Thế giới này được tồn tại trong hệ thống như vậy. Trong thế giới này có một ngọn núi tên là Sineru (Tudi), ngọn núi cao nhất, chân núi thọc sâu xuống biển 84 ngàn do tuần và phần trên của nó (từ mặt biển lên tới đỉnh) cũng là 84 ngàn do tuần.

Chung quanh núi Tu Di có 7 ngọn Đại Sơn: Yugandhara, Isindhara, Karavīka, Sudassana, Nemindhara, Vinataka và Assakaṇṇa. Cả bảy ngọn núi lớn này đều được cấu tạo bằng nhiều thứ ngọc Chư thiên và chúng có cao thấp gì thì cũng chỉ tới lưng chừng núi Tu Di (cao bằng nửa núi Tu Di) mà thôi. Đây là chỗ ở của các vị Đại Thiên Vương cùng Dạ Xoa.

Nói về núi Tuyết Sơn, nó cao 500 do tuần và chiều dài, chiều rộng của nó có tới ba ngàn do tuần. Trong dãy Trường Sơn đó, ngoài ra đỉnh núi cao nhất còn có 84 ngàn ngọn tiểu sơn khác bao bọc chung quanh.

Trong thế giới này có một cây trâm tên là Naga. Đường kính của thân cây này là 15 do tuần, vừa thân vừa nhánh dài 60 do tuần, tàn cây vươn ra 100 do tuần và chiều cao cũng 100 do tuần.

Dựa vào nét đặc thù của cây Trâm, người ta gọi châu này là Châu Diêm Phù (jambudīpa).

Chiều cao lớn xòe rộng của cây Trâm này bao nhiêu thì độ lớn của cây Citrapāli (của bọn Asura), cây Ngíu28 (của bọn Garuḍa), cây Kadama (của amaragoyānadīpa-Tây Ngưu Hóa Châu), cây Kapparukkha (của Uttarakuradīpa-Bắc Cưu Lâu Châu), cây SIS (của Pubbavidehadīpa-Đông Thắng Thần Châu), cây Pāricchattaka (của cõi Đạo Lợi) cũng chừng đó. Cho nên các bậc A Xà Lê xưa kia đã ghi rằng: "Bảy cội cây sau đây: Pāṭali, Pāricchattaka... đều có độ cao lớn như nhau cả".

Ngọn núi Cakkavāla có chân ăn sâu xuống đáy biển ngàn do tuần, và từ mặt biển lên tới đỉnh cũng vậy. Được bao quanh bởi các cội cây ấy, lokadhātu này tồn tại.

Trên núi Cakkavāla ấy có mặt trăng và mặt trời, chu vi của mặt trăng là 49 do tuần, chu vi của mặt trời là 50 do tuần. Cõi của Chư thiên Đạo Lợi, chu vi là 10 ngàn do tuần. Cõi Asura, đại địa ngục A tỳ (avīci) và Nam Thiện Bội Châu cũng có chu vi là 10 ngàn do tuần.

Tây Ngưu Hóa Châu rộng 7 ngàn do tuần, Đông Thắng Thần Châu cũng vậy. Bắc Cưu Lâu Châu rộng 8 ngàn do tuần. Trong mỗi Đại châu ấy có 500 tiểu châu phụ thuộc (parivāradīpa). Một cakkavāḷa được gọi là một lokadhātu.Trong khoảng giữa của Lokadhātu đó có địa ngục không gian (lokantariya).

Các vũ trụ thế giới là vô số, vô biên, không có chỗ tận cùng, Đức Thế Tôn đã thông hiểu toàn bộ về cái vô biên đó bằng Toàn Giác Trí vô biên của mình. Okāsaloka mà đã giải thích từ này giờ, đã được Bậc Đạo Sư thấu đáo một cách tường tận và chi tiết, cho nên Ngài được xưng tụng là bậc Lokavidū.

Ý nghĩa của hồng danh Anuttaro

Sở dĩ Đức Phật được gọi là Bậc Vô Thượng vì không có ai vượt trội Ngài về ân đức cả. Ngài thắng phục mọi chúng sanh trên đời này, các ân đức như Giới, Định… (ngũ uẩn pháp thân) của Ngài không ai sánh bằng được, không thể lấy một cá nhân nào để đem so sánh với Ngài về các khía cạnh đó. Như chính Ngài cũng đã xác nhận: "-Này các Tỳ kheo! Ta không thấy một ai trong đời, dầu là Chư thiên, Ma vương, Phạm thiên… lại có thể hơn ta về phương diện giới hạnh". Hàng thức giả nên nghiên cứu sâu rộng câu kệ (trong M.M.12/329): Ta không có thầy… và cũng nên xem lại các bài kinh như Aggappasādasutta chẳng hạn.

Đức Thế Tôn là bậc điều phục những ai đáng được điều phục nên được xưng tụng là bậc Điều ngự trượng phu. Điều phục ở đây nghĩa là dắt dẫn. Tiếng Purisadamma chỉ cho hạng chúng sanh chưa được điều phục nhưng có thể điều phục được, ở đây bất luận là người thú hay chư thiên. Đối với bàng sanh thì như Long vương Apalāla, Long vương Cūḷadara, Long vương Mahodara, Aggisikha, Dhūmasikha ālavāḷa. Và voi Dhanapāla... đều được Ngài an lập vào qui giới, dạy cho bỏ tính hung dữ. Còn trong loài người thì có Saccakanigaṇadaṇḍa, thanh niên Ambaṭṭha, Pokkharasādi, Soṇadaṇḍa, Kūṭadanta... trong hạng phi nhân thì có Dạ xoa Āḷavaka, dạ xoa Sūciloma, Kharaloma, Vua Trời Đế Thích… cũng đều được Ngài thuần hóa, dắt dẫn.

Bậc thức giả nên hiểu rộng rãi câu kinh sau đây (trong Aṅguttara, Catukka)

"Này Kesī! Như Lai hằng điều dẫn kẻ đáng điều dẫn bằng các phương cách tinh tế cũng có, điển hình cũng có, hoặc vừa tinh tế mà cũng vừa điển hình".

Lại nữa, Đức Thế Tôn luôn dạy Thiền Chỉ đến người đã có giới thanh tịnh cho họ chứng đạt các tầng thiền Đáo đại, rồi lại dạy cho họ đạo lộ khác cao hơn để họ đắc chứng Thánh Quả. Cho nên Ngài được gọi là bậc Điều ngự những kẻ đáng điều phục.

Bây giờ, tác giả sẽ giải thích nguyên vẹn hồng danh Anuttaro purisadammasārathi.

Sở dĩ Đức Phật được xưng tụng là bậc Vô lượng Điều ngự trượng phu, vì Ngài đã điều phục kẻ đáng điều phục bằng cách an lập họ vào một vị trí cố định, không để cho bay nhảy (tán động). Muốn hiểu rõ điều này, ta nên xem câu kinh (trong M.M): "Này các Tỳ kheo! Con voi thuần tánh được người nài điều phục rồi thì chỉ đi về một hướng mà thôi".

Ý nghĩa hồng danh Satthādevamanussānaṃ

Vì Đức Thế Tôn ấy hằng dạy bảo chúng sanh về lợi ích đời này, đời sau và lợi ích siêu việt một cách thích ứng nên Ngài được xưng tụng là Bậc Đạo Sư (Satthā)

Lại nữa, tiếng Satthā ở đây còn có nghĩa là satthavāha, vị hướng đạo đại chúng. Điều này trong Niddesa cũng có giải thích: "Như người trưởng đoàn lái buôn dẫn đường cho tùy chúng của mình vượt qua các sa mạc, những vùng đất mà chỉ có trộm cướp, thú dữ, thiếu nước, thiếu thực phẩm, để tới được địa điểm an toàn. Cũng vậy, Bậc Đạo Sư đã hướng dẫn chúng sanh vượt qua sa mạc sinh hữu, và sa mạc tái sanh". Tiếng Devamanussānaṃ ở đây chỉ cho tất cả Chư thiên và nhân loại hữu duyên (bhabbapuggala). Đức Thế Tôn là Bậc chân sư vì Ngài đã giáo hóa đến cả loài bàng sanh. Ngài đã tạo chủng giác ngộ đến cầm thú. Chúng nhờ nghe pháp của Ngài mà có được duyên lành, như trường hợp Thiên tử Maṇḍūka chẳng hạn. Tương truyền rằng lần nọ Đức Thế Tôn đang thuyết pháp cho dân chúng Campakā tại bờ hồ Gaggarā, và có một con ếch ở đó, đã nghe được Phạm âm vi diệu của Ngài. Rồi có một người chăn bò đang đứng gần đấy đã chống cây gậy lên đầu của nó, nó lập tức mệnh chung và được sanh lên cõi Đạo Lợi trong một Kim Lâu cao 12 do tuần. Điều đó diễn ra như một giấc mộng, con ếch choàng tỉnh dậy thì nhìn lên thấy các tiên nữ tại Kim Lâu ấy vây quanh nó. Nó bèn nhẩm lại trong óc: "Tại sao ta lại sanh vào đây, ta đã tạo nghiệp gì?". Rồi con ếch nhớ lại rằng nhờ nó nắm bắt được Phạm âm vi diệu của Đức Phật nên được sanh làm vị Thiên tử như thế này. Thế rồi, Thiên tử ếch đã rời cung điện bằng vàng của mình để đi đến yết kiến Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn liền hỏi:

"Nhà ngươi là ai mà có đủ mọi danh xưng, uy lực chói sáng và đến đảnh lễ dưới chân Như Lai vậy?"

Thiên tử ếch bạch với Đức Thế Tôn:

- Bach Ngài! Trước đây con là kiếp ếch trong hồ này, con chỉ sống trong nước thôi, khi con đang nghe Ngài thuyết pháp thì một người chăn bò đã làm con mệnh chung và rồi sau đó con được sanh làm Thiên tử.

Đức Thế Tôn liền thuyết giảng Chánh Pháp đến Thiên tử ếch. Cuối thời pháp thoại, có 84 ngàn người chứng ngộ, riêng Thiên tử ếch thì chứng Sơ quả, vị ấy mỉm cười rồi biến mất.

Ý nghĩa của hồng danh Buddha

Đức Thế Tôn được xưng tụng là đấng Phật Đà, vì Ngài đã hoàn toàn chứng ngộ những gì cần phải chứng ngộ, ở đây chỉ cho Tuệ Giác thấu triệt Pháp giải thoát của Ngài.

Một lẽ nữa, Đức Thế Tôn đã tự mình chứng ngộ lý Tứ Đế và đem sở kiến ấy truyền đạt lại cho chúng sanh khác, nên Ngài được gọi là đấng Phật Đà.

Để hiểu rõ ý nghĩa của hồng danh này, hàng thức giả nên xem thêm trong Niddesa hay Paṭisambhidāmagga, trong các tài liệu đó cũng giải thích rõ hồng danh Buddha tương tự như vừa nói trên.

"Đức Thế Tôn được xưng tụng là đấng Phật Đà vì Ngài đã chứng ngộ lý Tứ Đế và đem truyền đạt lại cho các chúng sanh khác cùng được chứng ngộ".

Ý nghĩa của hồng danh Bhagavā

Đứ Phật được xưng tụng là bậc Cụ Thoại Đức Giả vì Ngài hội đủ các ân đức cao cả, Ngài là bậc tối thượng trong tất cả chúng sanh, là Bậc Đạo Sư khả kính nhất. Các vị A Xà Lê tiền bối cũng đã định nghĩa hồng danh Bhagavā như vậy.

Có bốn trường hợp đặt tên.

Thứ nhất là āvatthikanāma (đặt tên do dựa vào hình dáng) như kêu con bò, bò thuần…

Trường hợp thứ hai là Lingikanāma (tên gọi dựa vào chi tiết của hình dáng) như nói người chống gậy, người che dù, thú có đuôi vũ (như chim công), thú có vòi (con voi)…

Trường hợp thứ ba là Nemitakanāma (tên gọi dựa theo đức tánh) như nói bậc Tam Minh, bậc Lục Thông…

Trường hợp thứ tư là adhiccasamuppannanāma (tên gọi dựa vào ý thích, muốn sao kêu vậy).

Hồng danh Bhagavā là Nemitakanāma, một cái tên mà không do cha mẹ Ngài hay một Chư thiên, Phạm thiên nào đặt ra cả. Như Ngài Sāriputta đã nói (trong Niddesa): "Hồng danh Bhagavā của Bậc Đạo Sư không do một người nào ban tặng cả, mà đó là tên gọi dựa vào pháp tánh giải thoát, một tiếng chế định có ý nghĩa làm sáng chói danh Đức Phật, làm tỏ rõ Nhất Thiết Trí mà Ngài đã chứng đạt dưới gốc Bồ Đề. Hồng danh Bhagavā được xưng tụng để làm nổi bật các ân đức của Bậc Đạo Sư như chư vị A Xà Lê tiền bối đã giải thích:

Đức Thế Tôn có tên gọi là Cụ thoại đức giả vì Ngài là Bậc có đủ mọi uy lực danh xưng, là bậc thành tựu Ariyadhammaratana (Thánh Pháp báu thân), là Bậc đầy đủ phước lộc về tứ sự, là bậc xướng thuyết Pháp bảo, Ngài là bậc Tôn sư, là bậc hữu hạnh, là Bậc tự điều chế bằng các qui pháp (đāyadhamma), là bậc đã đáo đạt chung điểm của sinh hữu. Các bậc thức giả xưng tụng Ngài là bậc Cụ thoại đức giả vì dựa vào các ân đức ấy. Muốn rõ những điều vừa nói xin hãy nghiên cứu thêm trong Niddesa.

Có một lời định nghĩa khác về hồng danh Bhagavā như sau: Đức Thế Tôn ấy là bậc Cụ thoại đức giả vì Ngài có đủ các thiện tánh, đã phá gãy căm xe sinh tử luân, là bậc hội đủ các chi phần ân đức, là bậc giải tích giả siêu việt, Ngài là bậc sống trong Thánh pháp, là bậc chối bỏ sinh hữu (khước từ sinh hữu).

Từ Bhagavā nếu đem giải thích bằng lối chiết tự (pisodara) thì có nghĩa là bậc hữu phần (Bhagavā) ở đây chỉ cho các thiện Pháp đã thành tựu viên mãn của Ngài. Những thiện pháp có công năng đem lại hiệp thế lạc và Siêu thế lạc, đặc biệt chỉ có đối với (một) Đức Phật, cho nên tiếng Bhagavā này có thể đọc thành Bhāgyavā cũng được.

Lại nữa, sở dĩ Đức Thế Tôn có tên là bậc Cụ thoại Đức giả, vì Ngài đã phá vỡ toàn bộ các chứng ngại, trở lực như tham, sân, si, điên đảo kiến (viparitamanasikāra), vô tàm, vô quý, hiềm hận, giả dối, kiêu mạn, biếng lười, ganh tỵ…, ba bất thiện căn, ba ác hạnh, ba trần cấu, tứ bộc, tứ phược, tứ phối, tứ kết, tứ thiên vị (agati), tứ ái thủ (taṇhupādāna), 5 hoang tâm (cetokhīla), 5 thằng thúc (vinibandha), 5 triền cái, 5 hỷ ái (abhinandana), 6 vivādamūla (nhân tranh tụng), 6 ái bộ (taṇhākāya), 7 tiềm miên phiền não, 8 tà tánh (micchatta), 9 tham căn (taṇhāmūlaka), thập ác nghiệp (akusalakammapatha-ác nghiệp đạo), 62 tà kiến, 108 ái điên đảo (taṇhāviparita) hay nói gọn hơn, Đức Thế Tôn đã chinh phục được ngũ ma, nên được xưng tụng là bậc Cụ thoại Đức giả. Các bậc A Xà Lê tiền bối đã nói như sau: "Đức Thế Tôn được gọi là bậc Cụ thoại Đức giả vì Ngài là vị ái tận, sân tận, si tận, lậu tận, ác pháp tận". Ở đây Bhagavā = Bhaggavā.

Lại nữa, Đức Thế Tôn ấy có tên gọi là Cụ thoại Đức giả vì Ngài có đủ 100 phúc tướng trên báu thân. Cả báu thân (rūpakāya) lẫn pháp thân (dhammakāya) của Ngài đều toàn vẹn, Ngài không có lỗi lầm, khuyết điểm trên bất cứ khía cạnh nào. Pháp tánh đặc thù của Ngài khắp tam giới đều biết đến, hàng cư sĩ hay hạng xuất gia đều tìm tới yết kiến Ngài, Ngài là bậc làm giảm vơi khổ đau cho đời, dù là khổ thân hay khổ tâm, người tại gia hay bậc tu hành (pabbajita). Ngài là bậc được hầu hạ bằng pháp và vật thí, Ngài là bậc có khả năng dẫn đạo cho chúng sanh trong đời, mang lại hiệp thế lạc và Siêu thế lạc cho tất cả. Ngài được gọi là bậc Cụ thoại Đức giả vì những ân đức như thế.

Tiếng Bhaga (hay Bhāgya) trong hồng danh Bhagavā còn được chỉ cho 6 điều:

- Issariya (uy lực), Dhamma (pháp Siêu thế), Yasa (danh xưng), Siri (mỹ mạo phúc tướng), Kāma (sự mãn nguyện), Payatta (năng động tánh, đức tánh tích cực).

Sở dĩ Ngài "là bậc có uy lực" bởi vì khả năng hóa thông của Ngài là vô hạn, là tối thượng. Ngài là bậc chứng đạt trọn vẹn Siêu thế Pháp. Ngài là bậc có danh xưng thanh tịnh (pārisuddhi), ân đức của Ngài được cả Tam giới biết đến.

Lại nữa các bộ phận lớn nhỏ trên báu thân của Ngài đều có phúc tướng đặc biệt, dễ đem lại lòng tịnh tín cho bất cứ ai chiêm ngưỡng, những ước vọng hữu ích cho mình và cho tha nhân. Ngài đã thành tựu như ý, Ngài đã sống tinh cần, sống năng động đúng theo cương vị của Bậc Đạo Sư cho đời, với những chi phần ân đức này, Ngài được gọi là Bậc Cụ thoại Đức giả.

Lại nữa, Đức Thế Tôn có hồng danh Cụ thoại Đức giả vì Ngài là bậc giải tích, chia chẽ, tuyên thuyết các pháp một cách chi tiết, tinh tế, mạch lạc. Ngài đã bố trí nội dung các pháp Uẩn, Xứ, Giới, Đế, Thiện, Bất Thiện… một cách vô cùng hợp lý và sâu sắc.

Ngài đã sắp xếp bố cục của các Pháp nghĩa hết sức hệ thống và trình tự. Đây là Khổ đế, cái bị nhân duyên trợ tạo cấu hợp, bản chất vốn gây nóng, tạo nhiệt. Đây là Tập đế, con đường dẫn tới
kết quả đó. Còn đây là Diệt đế, cứu cánh xuất ly, tịnh chỉ, tỉnh hóa Khổ đế. Và cuối cùng là Đạo đế, đạo lộ đưa đến cứu cánh ấy… cho nên từ Bhagavā ở đây được xem như đồng nghĩa với Vibhattā (Giải tích giả).

Đức Thế Tôn có hồng danh là Cụ thoại Đức giả vì Ngài là bậc sống trong Pháp, sống trong Thiên trú pháp (dibbavihāradhamma), Phạm trú pháp (Brahmavihāradhamma) và Thánh trú pháp (ariyavihāradhamma). thân tâm Ngài hoàn toàn thanh tịnh, xa lìa phiền não (tỉnh ly phiền não), sống trong Không tánh giải thoát, sống trong thượng nhân Pháp hiệp thế lẫn Siêu thế thượng nhân pháp. Cho nên ở đây, từ Bhagavā còn được đồng nghĩa với Bhattavā.

Đức Thế Tôn có hồng danh là Cụ thoại Đức giả vì Ngài đã khước từ sinh hữu, Ngài đã tận diệt tham ái trong ba hữu, cho nên ở đây tiếng Bhagavā được định nghĩa là Bhavesu vantagamano.

Người ta lấy chữ Bha trong "Bhavesu", chữ Ga trong "Gamana" chữ Va trong "Vanta" ghép lại với nhau, rồi thêm dấu trường âm vào chữ Va thành ra Bhagavā để dùng trong lối định nghĩa này.

Như trong trường hợp để chỉ về một cô gái quấn vòng hoa ở chỗ kín của mình (mehanassa khasa mālā) người ta chỉ cần nói gọn là mekhalā.

QUẢ BÁU CỦA SỰ NIỆM TƯỞNG PHẬT ĐỨC

Khi hành giả suy tưởng về ân đức của Bậc Đạo Sư như đã giải (Itipiso…bhagavā) thì ngay lúc đó tâm tư của vị ấy không bị phiền não thống ngự, xâm chiếm (pariyuṭṭhi) và chỉ tập trung hướng về Đức Như Lai. Rồi pháp cái được tịnh chỉ lập tức, nội tâm hành giả gắn chặt vào án xứ và Tầm, Tứ về ân đức Bậc Đạo Sư sẽ khởi lên. Khi hành giả cứ kiên trì bám sát ân đức của Ngài như vậy, thì hỷ duyệt cũng sanh khởi. Mọi sinh hoạt loạn động của thân, tâm sẽ được tịnh chỉ, bởi vì hỷ duyệt luôn là yếu tố cần thiết cho Tĩnh thân, Tĩnh tâm (padaṭṭhāna). Khi thân tâm đã được tỉnh hóa thì lạc sẽ xuất hiện. Sau lạc sẽ là định, sự nhất tâm khắng khít vào ân đức Phật Bảo. Cứ theo trình tự đó, các chi thiền lần lượt có đủ, chúng khởi lên trong cùng một giây phút đó. Nhưng vì ân đức của Ngài quá thâm sâu và vì tâm hành giả phải "bận" suy xét tới từng khía cạnh của các ân đức, các hồng danh nên không thể nào đạt đến Kiên cố định được, mà đề mục này chỉ đưa tới Cận định thôi. Thiền định này được gọi là Phật tùy niệm, bởi nó khởi lên nhờ vào sự suy niệm ân đức của Bậc Đạo Sư.

Vị Tỳ kheo tu tập kiên cố đề mục này sẽ là người có lòng tôn kính Bậc Đạo Sư một cách đặc biệt, sẽ là vị dồi dào đức tin, chánh niệm, trí tuệ và phước báu. Vị ấy sẽ đủ hỷ duyệt sung mãn và có tâm lực áp chế được mọi sợ hãi, cũng như có khả năng chịu đựng được các cảm thọ đau đớn và sẽ có tâm trạng rằng mình đang được sống gần gũi Đức Thế Tôn.

Lại nữa, thân xác của vị Tỳ kheo ấy (vị Tỳ kheo có tâm tràn đầy đối với ân đức Phật) hằng trở thành vật đáng cúng dường như một ngôi Bảo Tháp vậy. Tâm tư của vị ấy luôn hướng đến Phật giới (Buddhabhūmi). Vị Tỳ kheo ấy sẽ có tàm, quý dồi dào và cảm thấy e dè trước mọi tội lỗi, giống như có Bậc Đạo Sư đang ngự trước mặt vậy. Nếu Tỳ kheo ấy không chứng đạt Đạo Quả ngay thời hiện tại thì cũng được sanh lên Thiên giới.

Cho nên người hiền trí không nên lơi lỏng trong việc suy niệm ân đức Bậc Đạo Sư, phải thường xuyên suy niệm về Ngài như vậy, vì điều đó dẫn tới đại uy lực (mahānushāva) như đã giải.

 


← 3 4 5 →

Nguồn: Ngõ Vào Nội Tại
(Tỳ khưu Huyển Đạt lược dịch)
Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.

© www.tudieu.de