LỢI ÍCH CỦA SỰ GHI NHẬN ĐỊA THẾ MỘT CÁCH KỸ LƯỠNG
Sự ghi nhận địa thế một cách kỹ lưỡng sẽ giúp cho hành giả không bị rơi vào tình trạng bấn loạn, tán tâm, nghĩa là khi hành giả đi đến chỗ có tử thi trong lúc phi thời như ban đêm thì rất khó mà để ý được địa thế chung quanh, nên trong khi đưa mắt ngó tử thi để nắm bắt đề mục thì tử thi ấy sẽ (được thấy) giống như muốn bật đứng dậy, hay như muốn cử động, muốn rượt hành giả. Hành giả thấy cảnh tượng khả ố như vậy thì tâm lập tức bấn loạn, khiếp đảm ngay.
Đúng ta theo tinh thần Chánh tạng, trong cả 38 đề mục tu thiền của Chánh tạng thì không có đề mục nào nhắm đến sự khiếp đảm như vậy cả, nhưng trong trường hợp này, hành giả còn là người/ còn yếu trong tâm lực và đề mục thì lại dễ sợ quá, thế thôi. Cho nên trong những lúc như vậy, hành giả cần phải thong thả, trầm tình, trung chánh niệm cao độ để tự trấn an rồi tìm cách tạo sự yên tâm, như suy nghĩ rằng: “làm gì có chuyện tử thi bật dậy rồi rượt người sống” .Dầu cho tử thi ấy không có bật dậy hay chi chi, nhưng hành giả cũng phải đứng chỗ nào đó không bị cây cối, gò đất, tảng đá... cản trở khi xoay sở oai nghi bởi ít ra điều đó cũng giúp cho hành giả một điểm tựa để yên tâm mà tu tập. Hành giả nên tự nhủ lòng: Này tỳ kheo! Có gì phải sợ hãi, chớ có sợ hãi.xong rồi hành giả mới dẫn tâm vào đề mục và nhờ có vậy mới có hy vọng chứng đạt Thượng pháp. Đó là lợi ích của việc để ý kỹ lưỡng địa thế chỗ mình quan sát quan sát tử thi.
Khi hành giả ghi nhận 11 chi tiết của một tử thi như vậy (quan sát tử thi qua 11 khía cạnh như đã giải) thì được xem như là hành giả đã nắm bắt được đề mục một cách chi ly rồi. Nhờ tập trung nhãn lực nhìn ngắm tử thi, uggahanimitta sẽ khởi lên nơi hành giả và từ đó, từ sự dán tâm vào uggahanimitta, paṭibhāganimitta sẽ khởi lên. Nhờ trụ vào kiên cố định, hành giả có điều kiện để tu tập thiền quán dễ dàng, để chứng Thánh Quả dễ dàng. Cho nên các bậc A Xà Lê chú giải Sư đã nói rằng lợi ích của sự quan sát tự thi qua 11 khía cạnh là kiềm chế, buộc chặt cái tâm.
Nhắc lại về vấn đề “để ý kỹ lưỡng đường đi, lối về” (từ trú xứ của mình tới chỗ tử thi và từ đó về trú xứ của mình), nhờ có sự kỹ lưỡng như vậy, hành giả sẽ không bị lầm đường lạc nẻo khi đi, về, hay sẽ không bị lầm lẫn trong khi ôn lại những hồi ức. Điều này rất quan trọng, hành giả không được quyền quên, sự kỹ lưỡng không bao giờ thừa cả.
Trong khi tu tập về đề mục trướng thi, hành giả không nên có một lối sống lập dị hay thiếu bổn phận, tắc trách. Khi vừa mới học đề mục, dầu tâm lực còn non yếu, trong mọi quan hệ xã giao với người khác, hành giả vẫn phải thực hiện bình thường, như khi tâm tư đang dán chặt vào đề mục mà có ai hỏi điều gì, hành giả vẫn phải trả lời, không nên im lặng dù có vì vậy mà đề mục bị mất (tâm không còn dán chặt vào đề mục). Gặp khách khứa, hành giả vẫn phải chào hỏi, tiếp đón lịch sự. Các bổn phận trong chùa như quét tháp, dọn dẹp phòng ốc, hầu hạ thầy tổ... hành giả cũng vẫn phải làm tròn cho dù nội tâm có vì vậy mà bị phóng tán ra ngoài đề mục.
Khi muốn ra chỗ tử thi để xác lập lại án xứ, hành giả cũng không nên vội vã mà phải thong thả. Bởi rất có thể tử thi đó đã bị phi nhân, thú dữ chiếm giữ hoặc đã bị biến đổi màu sắc, hình hài, bởi vì sau khi đã bị sình lên đôi ba hôm, tử thi sẽ chuyển sang màu xanh bầm (mà như vậy thì đâu còn là cảnh thích hợp cho hành giả nữa). Trong hầu hết các đề mục, không có đề mục nào rắc rối, phức tạp như đề mục trướng thi này cả.
Lúc biết tâm mình đã mất đề mục thì hành giả nên đến ngồi tại một chỗ nào đó, bất luận là đang ban đêm hay ban ngày, rồi cố hình dung lại trong đầu toàn bộ những chi tiết đã xảy ra có liên quan đến đề mục: “Hôm ấy, ta từ chùa đi ra rừng (hay chỗ có tử thi) theo cánh cổng này, đi theo con đường kia, rồi tới chỗ đó, ta lại quẹo trái, rẽ phải. Trên đường đi có lùm cây như vầy, có gò mối, có cội cây như vầy, có tảng đá nằm ở đâu trên con đường, rồi ta tới chỗ tử thi, ta xoay mặt về phía nào, quan sát địa thế chung quanh ra sao, ta nắm bắt, ghi nhận tử thi qua các khía cạnh, chi tiết thế này, rồi từ chỗ đó ta quay về, con đường trở về như thế nào và bây giờ thì ta đang ngồi ở đây”.
Khi hành giả ôn lại những hồi tưởng như vậy thì đề mục sẽ tái khởi trong tâm vị ấy một cách rõ rệt, rõ như nó đang ở trước mắt, tất cả những hình ảnh đó sẽ lần lượt hiện ra trong tâm hành giả một cách thứ lớp, trình tự và vô cùng đầy đủ. Cho nên các bậc chú giải sư đã nói rằng sự để ý kỹ lưỡng đường đi, lối về rất lợi ích, giúp cho hành giả một hồi ức trình tự chính xác trong mọi trường hợp cần thiết.
Hành giả phải là người thiết tha cầu vọng cứu cánh giải thoát, phải xem án xứ bất tịnh như châu báu, luôn khắng khít với án xứ, phải luôn sống trong ý niệm nhờm gớm đối với trướng thi để chứng đạt thiền định, từ đó cũng tạo điều kiện để tu quán, tâm tư phải luôn khao khát cầu vọng mục đích giải thoát “Ta sẽ không còn già chết nhờ tu tập đạo lộ này”.
Như một người nghèo có được viên ngọc maṇi, hắn sẽ nâng niu, gìn giữ cẩn thận viên ngọc bằng tất cả tâm trí. Đối với hành giả tu tập đề mục trướng thi cũng vậy, cũng phải “trân trọng” duy trì ấn tượng nhờm gớm trong trướng thi bằng tất cả tâm trí, với ý nghĩ rằng: “Đề mục này rất khó tìm được mà ta lại tìm thấy”.
Đối với án xứ Tứ Đại, hành giả (tu tập đề mục ấy) có thể tìm thấy Tứ Đại qua thân thể mình lúc nào cũng được, đối với hành giả tu đề mục hơi thở, hơi thở cũng thường xuyên có mặt để vị ấy quan sát, chú niệm, đối với hành giả tu tập các đề mục kasiṇa, sau khi tạo đề mục rồi thì bất cứ lúc nào muốn xác lập đề mục cũng tiện cả, thậm chí các đề mục khác cũng rất dễ tìm thấy khi cần. Còn đối với đề mục trướng thi, sau khi đã trải qua đôi ba hôm nó sẽ chuyển sang tình trạng khác, màu sắc khác, hình dạng khác, như bị xanh bầm hay giòi khoét, thú ăn... cho nên nó được xem là loại đề mục khó tìm nhất.
Và do đó, hành giả càng phải ráo riết dán tâm, gắn chặt vào đề mục một cách triệt để, phải thường xuyên buộc tâm vào án xứ trướng thi “tử thi sình trương này quả thật đáng gớm” bất luận ngày hay đêm, tại chỗ nào hành giả cũng luôn luôn quan sát như vậy, làm cho trướng thi trở thành một hình ảnh gắn chặt, khắng khít trong nội tâm mình. Làm đúng như vậy, paṭibhāganimitta sẽ khởi lên. Trong hai nimitta của đề mục trướng thi, mỗi cái có một tính độc đáo riêng. Uggahanimitta luôn là những hình ảnh quái đản, đáng tởm, đáng gớm, thậm chí dễ gây khiếp đảm. Còn paṭibhāganimitta luôn giống như một người đàn ông phốp pháp, thân thể đầy đặn như đối với kẻ chỉ biết ăn ngủ. Cùng lúc paṭibhāganimitta khởi lên, tâm tư hành giả được vắng lặng các triền cái.
Dục tham vắng mặt vì từ lâu hành giả hãm tâm không cho hướng ngoại. Sân hận vắng mặt vì từ lâu hành giả đã từ bỏ những tư tưởng xung sát 13 cũng như khi hết máu thì mũ sẽ không còn nữa (hay nói cách khác, hễ không có máu thì không có mũ). Hôn thụy vắng mặt vì năng động tánh cao độ của hành giả. Phóng dật vắng mặt vì từ lâu nội tâm hành giả đã được tỉnh hóa, đã được làm dịu mát. Và nhờ từ lâu hành giả đã sống trực quan, thực khán đề mục nay lại thấy được thành quả cao quí mà mình vừa đạt xong, hành giả sẽ tạm thời đình chỉ nghi hoặc về Bậc Đạo Sư, vị đã đưa ra đạo lộ mà hành giả đang tu tập và hành giả cũng đình chỉ cả sự nghi hoặc về đạo lộ tu tập, thành quả tu tập. Đó là trình tự của sự vắng mặt triền cái mà hành giả đạt được khi paṭibhāganimitta vừa khởi lên.
Sau đó, chi Tầm (vitaka-sự hướng tìm cảnh) cũng khởi lên, chi Tứ (vicāra-sự chăm chút cảnh) cũng khởi lên, chi Hỷ (pīti-ở đây là sự hưng phấn về thành quả cao quí mà mình vừa đạt được) cũng khởi lên. Từ sự an tĩnh và hưng phấn tâm tư hành giả, chi Lạc (xuất sinh từ Tĩnh) cũng khởi lên. Dựa vào tâm định (samādhicitta) của hành giả lúc được an lạc, ekaggatā cũng khởi lên. Nói chung, vào giây khắc này, tất cả chi thiền đều có mặt với những chi tiết, trình tự như vậy. Lúc đó, cận định sẽ khởi lên nơi tâm hành giả lập tức. Cận định có dáng nét tựa như sơ thiền. Từ giai đoạn cận định, hành giả sẽ tiến đạt lên appanā (kiên cố định) mà ở đây nói rõ là chỉ Sơ thiền thôi. Xong rồi hành giả chứng đạt luôn 5 phpas vasī của Sơ thiền. Đó là tất cả những gì cần biết về đề mục trướng thi.
CÁC ĐỀ MỤC TỬ THI CÒN LẠI
Cách thức tu tập về các đề mục bất tịnh còn lại cũng dễ, trên mặt lý thuyết tổng quát thì hầu như đều giống như ở đề mục trướng thi. Chỉ đổi câu niệm: “Trướng thi này đáng tởm thật” thành ra “Tử thi xanh bầm này, tử thi có nước vàng này... đáng gớm thật” chỉ thế thôi. Cho nên trong phần giải về các đề mục còn lại, tác giả sẽ nói thật gọn.
TỬ THI XANH XÁM (Vinīlaka)
Đối diện với tử thi xanh xám, hành giả tác ý rằng: Tử thi xanh xám này đáng tởm thật, tử thi xanh xám này đáng gớm thật.
Uggahanimitta của đề mục này là hình ảnh một thây người có tỳ vết. Còn paṭibhāganimitta (của đề mục này) thì luôn là cái màu nào nổi bật nhất trên tử thi án xứ mà mình đã quan sát (trên tử thi ấy có màu nào nhiều nhất, tới lúc paṭibhāganimitta khởi lên thì màu đó hiện ra).
TỬ THI CÓ NƯỚC VÀNG (Vipubbaka)
Đối diện với tử thi chảy nước vàng, hành giả tác ý trong tâm: “Tử thi có nước vàng này đáng tởm, đáng gớm thật”.
Uggahanimitta của đề mục này giống như nước vàng đang rỉ chảy, paṭibhāganimitta thì là một tử thi bất động, cứng đờ.
TỬ THI BỊ ĐỨT KHÚC (Vicchiddaka)
Hành giả có thể tìm thấy loại tử thi này tại những nơi như chiến trường, sào huyệt của bọn bất lương hay trong rừng, trong pháp trường, trong chỗ người ta bị thú dữ vồ. Nếu đến chỗ ấy mà thấy các khúc tử thi còn nằm tại chỗ thì tốt, điều đó khỏi phải bàn đến, còn như chúng đã bị vứt rải rác, tứ tung thì hành giả cũng đừng tự tay đụng tới các khúc tử thi ấy làm gì, bởi nếu làm như vậy tâm sẽ bị chai sạn với cảnh “từng trải” với cảnh (khó mà thấy được sự đáng gớm của tử thi ấy nữa). Nếu là một Tỳ kheo, hành giả nên nhờ ai đó như sadi hay người chùa, người quen đến gom các khúc tử thi ấy để vào một nơi. Nếu không tiện nhờ ai, thì hành giả nên cầm gậy khều từng mảnh vụn tử thi nào gần mình nhất rồi tác ý trong tâm: “Tử thi đứt đoạn thế này đáng gớm thật”.
Uggahanimitta của đề mục này giống như một khe hở, đường nứt ở giữa cái gì vậy. Còn paṭibhāganimitta thì là hình ảnh một thây người nguyên vẹn.
TỬ THI BỊ THÚ ĂN (Vikkhāyitaka)
Đối diện với loại tử thi này, hành giả tác ý “Tử thi bị thú ăn đáng gớm thật”. Ugahanimitta của đề mục này là những vết thú gặm, paṭibhāganimitta thì cũng là một tử thi nguyên vẹn.
TỬ THI BỊ BẰM NÁT (Vikkhittaka)
Muốn quan sát loại tử thi này, hành giả có thể nhờ người hay tự mình (dùng gậy, cây gắp-ṭīkā) khều về một mảnh nhỏ cỡ ngón tay rồi tập trung vào đó mà niệm “Tử thi bị bằm nát thế này đáng tởm, đáng gớm thật”. Uggahanimitta của đề mục này là một hình ảnh rõ rệt về tử thi bị bằm nát (tức là hành giả sẽ nhìn thấy một đống xương thịt nhầy nhụa, nát nhừ). Còn paṭibhāganimitta cũng vẫn là một thây người nguyên vẹn.
TỬ THI BỊ VUNG VÃI RẢI RÁC (Hatavikkhitta)
Hành giả có thể tìm thấy loại tử thi này tại những nơi mà đã nói ở phần Vicchiddaka. Đến đó, hành giả có thể nhờ người hay tự mình tìm một mảnh vụn tử thi cỡ ngón tay, rồi nhìn vào đó mà suy niệm “Tử thi bị rải rác thế này đáng gớm thật”.
Uggahanimitta của đề mục này giống như là một miệng vết thương lở loét, còn paṭibhāganimitta thì cũng vẫn là một tử thi nguyên vẹn.
TỬ THI MÀ CÓ MÁU (Lohitaka)
Để quan sát được chi tiết máu của một tử thi, hành giả phải chú ý vào những bộ phận bị đứt, bị thương tích của nó và tử thi loại có máu chảy ra thường có tại những chỗ như đã nói ở đề mục Vicchiddaka. Hành giả phải để ý vào những vết thương, chỗ loét có chảy máu rồi tác ý rằng: “Tử thi có máu này thật đáng gớm, đáng tởm thật”. Ugahanimitta của đề mục này hiện ra trong hình ảnh phất phơ như một lá cờ màu đỏ bị gió thổi, còn paṭibhāganimitta là một tử thi cứng lạnh, bất động.
TỬ THI BỊ GIÒI BỌ ĐỤC KHOÉT (Puluvaka)
Tử thi loại này được nhìn thấy chi tiết nhất vào lúc các giòi bọ ra từ cửa khiếu của tử thi mà đã chết được 2-3 hôm. Xác chết của những loài có cỡ khá lớn như người ta, chó nhà, chó rừng, bò, trâu, voi, ngựa, trăn... Khi đã bị giòi bọ đục khoét trông giống như một đống cơm sāli vậy. Đối diện những xác chết có tầm cỡ đó, hành giả tác ý rằng: “Xác chết bị giòi bọ đục khoét này đáng tởm quá”. Có một vị trưởng lão tên Cūḷapiṇḍapātikatissa đã đạt được ấn chứng về đề mục này khi nhìn thấy xác chết của một con voi tại hồ Kāḷadīghavāpī. Uggahanimitta của đề mục này giống như đang lúc lắc, lay động. Còn paṭibhāganimitta thì bất động nhưng giống như một đống cơm Sāli.
TỬ THI LÚC CHỈ CÒN XƯƠNG (Aṭṭhika)
Để quan sát tử thi loại này, hành giả nên đến những nơi mà người ta tập trung xương cốt, như trên các hòn núi chẳng hạn, người ta hay mang xương người chết đến vất ở đó, có những bộ xương chỉ còn chút thịt, máu và gân chằng chịt. Muốn tới chỗ ấy, hành giả cũng nên quan sát địa thế như đã nói ở trước, trên con đường đi và chỗ có xương người. Đối diện với bộ xương, hành giả phải quan sát nó qua khía cạnh như tác giả đã nói ở phần trước.
Nhưng nhớ một điều là không nên tác ý vào màu trắng của xương, không thể cộng ghép đề mục xương này vào với odātakasiṇa được, nếu làm vậy ấn chứng của đề mục xương mà mình đang muốn đạt sẽ không đạt được. Hành giả chỉ nên nhận biết đơn thuần rằng đây là bộ xương thôi.
Trên 11 khía cạnh cần quan sát trên bộ xương, nói về khía cạnh vesa, là chỉ cho các bộ phận như tay, chân… tức là hành giả sẽ để ý khía cạnh vesa của bộ xương rằng: Đây là đầu, tay, chân, ngực… Nói về khía cạnh saṇṭhāna (hình dáng) thì hành giả để ý rằng: cái này tròn, vuông, nhỏ, lớn. Còn về khía cạnh okāsa và disa thì vẫn nên ghi nhận theo cách đã giải. Về khía cạnh pariccheda, hành giả nên để ý đến những chỗ cùng của các nhánh xương. Aán chứng nào khởi lên từ đề mục này hành giả nên duy trì ấn chứng đó để tiến đạt Kiên cố định.
Hành giả nên chú ý tới những chỗ lõm và chỗ nhô ra trên bộ xương, nên để ý rằng ta đang ở chỗ trũng còn bộ xương đang nằm trên gò cao hoặc ngược lại. Nên ghi nhận kỹ chỗ nối nhau giữa các khớp xương. Nên ghi nhận những khe hở trên bộ xương. Hành giả nên dùng trí quan sát khắp mọi chỗ trên bộ xương. Nên ghi nhận cả địa thế của bộ xương nằm. Nếu đã làm tất cả những chi tiết đó mà ấn chứng vẫn không hiện khởi thì hành giả nên để tâm chú ý vào vùng xương trán (trên trán bộ xương).
Chẳng những chỉ đối với đề mục xương này mới quan sát cả 11 khía cạnh, mà đối với các đề mục khác như tử thi bị giòi, bọ ăn chẳng hạn, cũng phải được quan sát kỹ lưỡng (qua 11 khía cạnh) như vậy.
Hành giả phải nắm vững 11 khía cạnh cần quan sát trên bộ xương, bất cứ loại bộ xương nào (còn máu, thịt, gân hay không) rồi đến chỗ đó (chỗ xương nằm) và tác ý: "Bộ xương này đáng tởm thật".
Đặc biệt đối với đề mục tử thi trong dạng xương này, cả ugahanimitta và paṭibhāganimitta của nó đều giống nhau. Tuy nhiên, điều đó chỉ đúng trong trường hợp đề mục là một cục xương. Còn nếu đề mục mà hành giả quan sát là cả bộ xương thì ugahanimitta sẽ có khe hở, còn paṭibhāganimitta là một thây người nguyên vẹn.
Có điều là nếu tu tập bằng đề mục một cục xương thì ugahanimitta của nó rất dễ sợ, rất khiếp đảm, còn paṭibhāganimitta thì lại đem đến cho hành giả sự hoan hỷ, hưng phấn, bởi từ đó hành giả sẽ tiến đạt cận định.
Về trường hợp ấn chứng của đề mục bất tịnh (hay bất mỹ - asubha) thì trong Atthakathā, các Ngài đã mâu thuẫn khi tuyên bố rằng: Đối với 4 đề mục Phạm trú và 10 đề mục bất tịnh (bất mỹ) thì không có paṭibhāganimitta, vì nimitta của 4 đề mục phạm trú thì trùng lập với nhau còn nimitta của 10 đề mục bất tịnh thì lại (chỉ) khởi lên trong khi hành giả nắm bắt hình ảnh nhờm gớm bằng sự vắng mặt của hư cảm16 (thấy là đẹp). Rồi cũng trong atthakathā, các Ngài lại bảo rằng "đề mục asubha có hai ấn chứng: Uggaha và paṭibhāga, uggaha là những cảnh, những hình ảnh đáng sợ, dễ khiếp đảm". Vì vậy, những gì tác giả đã giải về ấn chứng của đề mục bất tịnh là đều y cứ vào lời giải trên đây của Atthakathā (lời giả mà nhìn nhận rằng đề mục bất tịnh có paṭibhāganimitta).
Cũng có trường hợp thân xác nữ nhân được dùng làm đề mục qua ấn tướng về bộ xương như chuyện Ngài Mahātissa chẳng hạn, Ngài chỉ cần nhìn cái răng của 1 người phụ nữ, ấn chứng cũng khởi lên.
MỖI CƠ TÁNH THÍCH HỢP VỚI MỘT LOẠI TỬ THI
Ta nên biết rằng tùy tánh người mà mỗi đề mục tử thi có một tác động mạnh hay yếu, thích hợp hay không thích hợp. Sau đây, tác giả sẽ phân loại từng dạng tử thi với từng cơ tánh hành giả:
- Hành giả nặng về tánh "chuộng hình dáng" nên tu tập đề mục trướng thi bởi đề mục này giúp cho hành giả thấy rõ được sự biến hoại của hình dáng con người.
- Đối với dạng hành giả chuộng màu da (kẻ khác phái) thì nên tu tập đề mục tử thi xanh xám, nhờ vậy hành giả sẽ thấy được sự biến hoại của màu da.
- Đối với dạng hành giả thích hơi hám, mùi nước hoa… (kẻ khác phái) thì nên tu đề mục tử thi chảy nước vàng, nhờ vậy sẽ ý thức được rằng xác thân này vốn hôi hám.
- Đối với dạng hành giả ưa thích sự đầy đặn, nở nang của cơ thể (người khác phái) thì nên tu đề mục tử thi bị đứt khúc, nhờ vậy mới thấy được bề trong của cái mình ưa thích.
- Đối với hạng hành giả ưa thích các điểm gò trên thân thể (như vú…) thì nên tu đề mục tử thi bị thú ăn, nhờ vậy mới thấy được cái tiêu hoại của những gì mình ưa thích.
- Đối với hạng hành giả ưa ngắm nhìn từng điệu bộ, dáng nét duyên dáng trên chân tay… (người khác phái) thì nên tu đề mục tử thi bị vất rải rác, nhờ vậy mới thấy được bản chất sẵn sáng phân tán của các bộ phận thân thể.
- Đối với hạng hành giả ưa thích toàn bộ thân thể (người khác phái) thì nên tu đề mục tử thi bị băm nát, nhờ vậy mới thấy được tán hoại tánh của xác thân.
- Đối với hạng hành giả ưa thích sự trang điểm lòe loẹt trên thân thể thì nên tu đề mục tử thi vấy máu để có ấn tượng về bề ngoài đáng gớm của cái mà mình ưa thích từ lâu.
- Đối với hạng hành giả quá chấp thủ xác thân của mình thì nên tu đề mục tử thi bị giòi bọ đục khoét, bởi nhờ vậy hành giả mới thấy rằng xác thân mình chẳng qua chỉ là mồi ngon cho giòi.
- Đối với hạng hành giả ưa thích hàm răng đẹp thì nên tu đề mục bộ xương để thấy rằng tất cả những gì thuộc về xương trên thân thể đều đáng ghê tởm.
10 đề mục bất mỹ này rất cần tới chi Tầm, nhờ có nó tâm hành giả mới kiên trụ được, nếu không sẽ không còn kiên trụ vào cảnh nữa, vì cảnh này rất yếu. Giống như một chiếc thuyền trên dòng sông chảy xiết, nếu không nhờ cây sào chống lại thì chiếc thuyền không thể nào dừng được. Cho nên 10 đề mục bất mỹ này cũng không thể dẫn tới các tầng thiền cao (từ nhị thiền trở lên) vì ở các tầng thiền đó không có Tầm để giữ cảnh này. Mười đề mục bất mỹ chỉ dẫn đến sơ thiền thôi.
Tuy là những đề mục bất mỹ, đáng ghê tởm, nhưng trong khi tu tập 10 đề mục này, hành giả vẫn có hỷ duyệt, nhờ suy tư rằng: "Do tu tập đạo lộ này ta sẽ giải thoát lão tử" và nhờ tu tập các đề mục này mà 5 triền cái được tịnh chỉ, bởi chúng là những nhiên liệu đốt nóng tâm nên khi từ bỏ được chúng thì tâm hành giả sẽ được hỷ duyệt. Giống như người canh tác hoa màu thích thú với đống phẩn, vì nghĩ rằng: "nhờ cái này mà ta sẽ thu hoạch nhiều rau trái" hoặc như người bị bệnh, khi bị ói mửa hay tiểu tiện sẽ vui mừng mà nghĩ rằng nhờ vậy mà bệnh mình sẽ thuyên giảm.
Đặc tướng của 10 đề mục bất mỹ đều là sự đáng gớm (paṭikūla) không phải chỉ đối với tử thi mới đáng gớm, mà với thân thể của người sống vẫn đáng ghê tởm, như Ngài Mahātissa ở núi Cetiyapabbata, chỉ cần nhìn thấy hàm răng của một người đàn bà, cũng đủ khởi lên sự nhờm gớm, hoặc như Sadi hầu cận của trưởng lão Saṅgharakkhita, chỉ cần nhìn Đức Vua ngự trên cỗ voi cũng sanh tâm ghê tởm.
Đúng ra thân thể của người chết đáng tởm thế nào thì thân thể của người sống cũng đáng tởm như vậy. Nhưng trong thân thể người sống sự bất mỹ không hiển lộ nhờ các mỹ phẩm che khuất.
Trong thân thể mỗi người có hơn 300 khúc xương và 180 khớp nối nhau nhờ 900 sợi gân chằng chịt vào. Có tất cả 900 bắp thịt lớn nhỏ nằm khắp thân thể, chúng được lớp da ngoài bao phủ kín, tạo thành những khe hở nhầy nhụa thường xuyên giống như một bát mỡ đặc, đầy những giòi. Xác thân này là một ổ bệnh tật, là môi trường cho mọi thống khổ, cửu khiếu trong thân luôn bài tiết những chất thải đáng tởm. Từ hai mắt, cứt ghèn tuôn ra, từ hai tai cứt ráy rớt ra, nước nhờn từ mũi chảy ra, còn từ miệng thì luôn sẵn sàng vọt ra đủ thứ: máu, đờm, thức ăn. Từ hai đường tiểu tiện, phẩn và nước tiểu bài tiết ra. Từ 99 ngàn lỗ chân lông, mồ hôi sẵn sàng tuôn ra. Ruồi nhặng sẵn sàng bu vào thân thể một khi người ta không chịu giữ vệ sinh (như không tắm rửa, giặt giũ, thay quần áo, đáng răng…). Dầu là vị Hoàng đế hay người tiện dân cùng đinh, đều có một thân xác bất tịnh như nhau, điều đó không có ngoại lệ đối với một ai cả, bởi vì thân vua hay thân người tiện dân đều có những uế vật như nhau, có hơi hám bất tịnh như nhau.
Tuy nhiên, nhờ sự chưng diện và giữ vệ sinh các chi tiết nhơ bẩn, bất mỹ trên xác thân được che đậy bằng y phục và bằng các hóa mỹ phẩm trang sức nên người ta mới thấy rằng thân xác là đẹp và chấp thủ trong nó. Họ không thấy được bản chất thật sự của thân xác mình, họ đã bị lòe mắt bởi bề ngoài hấp dẫn họ, nam cảm thấy thích nữ mà nữ cũng cảm thấy yêu nam. Họ có biết đâu rằng, nếu phân tích theo paramattha thì trong cái xác thân này không có tí gì đáng để ưa thích, thương mến cả, thậm chí đến một nguyên tử khả ái cũng không có trong đó nữa là.
Đối với các đồ dơ bẩn trong thân như phẩn, nước tiểu, đàm, nước mũi, chất nhờn… thì hầu như ai cũng gớm cả, cho dù chỉ đụng bằng tay cũng không muốn. Thế nhưng mọi người vẫn còn cái nhìn mỹ quan đối với một số cái gọi là đẹp trên thân thể bất tịnh này. Họ bị vô minh che án, họ cảm thấy nó là đẹp, là khả ái, là trường tồn, hạnh phúc, nhìn nhận có cái tôi trong ấy. Họ nuôi hư tưởng về xác thân này như con chó chóc (linh cẩu) nhìn thấy cái hoa mà cứ ngỡ là miếng thịt.
Cho nên bậc hiền trí cần phải thấy được cái bất mỹ của xác thân này sau khi khẳng định được bản chất của nó. Kẻ ngu do hư cảm về thân xác này, thấy rằng nó là đẹp, họ chấp thủ nó và do vậy tạo các ác nghiệp. Họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
Bậc hiền trí thấy được bản chất bất tịnh hôi thúi của xác thân này nhờ loại trừ khỏi tâm tư mình cái mỹ quan về thân xác, dù của kẻ sống hay người chết. Như lời các bậc A Xà Lê xưa kia đã nói:
"Cái xác thân hôi thúi bất tịnh này giống như nhà xí vậy, nó bị người trí con rẻ. Nhưng lại được kẻ ngu tham chấp, ái luyến.
Xác thân này được da bao phủ, các chất thải dơ dáy từ cưu khiếu cứ thường xuyên bài tiết. Nếu bề trong của xác thân này được lộn ngược ra ngoài thì người ta chỉ còn cách là cầm gậy canh chừng quạ và chó đến ăn".
Do đó vị Tỳ kheo thượng căn (dabbajātika) nên ghi nhận lấy bản chất bất mỹ trong thân thể của cả người chết lẫn người sống, nên nắm bắt ấn tượng về xác thân này để phát triển án xứ và tiến đạt appanā.
Nguồn: Ngõ Vào Nội Tại
(Tỳ khưu Huyển Đạt lược dịch)
Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.© www.tudieu.de