www.tudieu.de

Ngõ Vào Nội Tại - Ghi chú

← 11 Trang Đầu 13 →


ĀNĀPĀNASATI


Theo như Bậc Đạo Sư đã dạy trong Chánh Tạng, vị hành giả muốn tu tập đề mục hơi thở, trước hết phải từ bỏ trần cảnh, rồi tìm vào một trú xứ thích hợp cho việc tu thiền như gốc cây hay nhà vắng chẳng hạn. Bởi vì đã từ lâu, tâm tư chúng ta chưa quan khắn chặt vào án xứ hơi thở và chỉ quen hướng ngoại. Cho nên khi đã ở tại một tịnh xá thích hợp, hành giả bắt đầu dùng chánh niệm làm sợ dây để cột tâm mình vào cây trụ hơi thở, buộc nó phải hướng nội (upanijjhati) không cho chạy theo ngoại cảnh và an trụ vào Cận định hay Kiên cố định. Giống như người chủ bò muốn tách rời bò con ra khỏi bò mẹ thì trước hết phải đem nó cột vào một cây trụ khác. Sau khi vùng vẫy để đi về với mẹ mà vẫn bất lực, thì con bò con sẽ đành an phận với cây cột của mình. Cho nên các Bậc Đại Sư tiền bối (Porāṇacariya) đã nói như sau:

Yathā thambhe nibandheyya Vacchaṃ danaṃ naro idha
Bandheyyevaṃ sakaṃ cittaṃ Satiyārammaṇe daḷhaṃ


“Người trên đời này thường buộc con bò con vào cây cột như thế nào, thì cần phải cột tâm mình vào cảnh bằng chánh niệm cho thật chặt chẽ như thế ấy”.

Lại nữa, án xứ hơi thở là một án xứ đặc biệt mà chư Thánh nhân phi thường như Đức Phật Toàn Giác, Độc Giác cùng chư Thinh Văn đã dùng để chứng ngộ và an hưởng hiện tại lạc trú.

Đây là một án xứ mà trong khi tu tập đòi hỏi phải ở tại những trú xứ va vắng, yên tĩnh, bởi vì ồn ào là mũi gai của thiền định, cho nên Đức Thế Tôn dạy rằng: Hành giả muốn tu tập án xứ này, phải tìm đến những nơi vắng vẻ để nhờ vậy mới có thể tiến đạt các tầng thiền.

Bậc Đạo Sư giống như một nhà địa lý (vatthuvijjācariyo) biết rành những vùng đắc địa, những cuộc đất hưng phát, thạnh mậu. Ngài dạy người tu thiền những trú xứ thích hợp, những chỗ ngụ có điều kiện tốt cho việc tu tập thiền định đạt được kết quả.

Còn vị Tỳ kheo hành giả thì giống như con cọp. Con cọp luôn ẩn mình ở những chỗ kín đáo, vắng vẻ để kiếm mồi. Vị Tỳ kheo hành giả luôn tìm đến những trú xứ xa vắng để thiền định với mục đích tầm cầu Thượng nhân pháp. Cho nên Bậc Đại Sư tiền bối đã nói như sau:

Yathāpi dīpiko nāma Nilīyitvāna daṇhāti mige
Tathevāyaṃ buddhaputto Yuttayogo vipassako
Araññaṃ pavisitvāna Gaṇhāti phalamuttamaṃ
?

“Như con cọp ẩn mình để bắt thú, con trai của Đức Phật là
người tu thiền cũng đi vào rừng sâu để tìm lấy Đạo Quả”.

Rừng ở đây có thể là một địa điểm nào đó cách xa làng xóm khoảng 500 cây cung (theo Ṭīkā 2/41 thì 4 tháng nóng nên ở trong rừng, 4 tháng lạnh nên ở gốc cây, 4 tháng mưa nên ở nhà vắng. Đời sống trong rừng thích hợp với người nhiều đàm, đời sống dưới gốc cây thích hợp với người nhiều mật, đời sống trong nhà vắng thích hợp với người có thể trạng “dư gió”. Rừng thích hợp với người tánh si, gốc cây thích hợp với người tánh sân, nhà vắng thích hợp với hạng người tánh tham – Yên Tử trích lược).

Sau khi chỉ cho trú xứ tu Thiền thích hợp với mỗi thời tiết, thể chất và cơ tánh như vậy, Bậc Đạo Sư đã dạy vị hành giả cách ngồi thiền. Ở đây vị hành giả phải ngồi theo tư thế xếp bằng (pallaṅka) phần thân trên phải thật thẳng để 18 khớp xương lưng khít khao, đều đặn với nhau. Khi ngồi xếp bằng thẳng lưng như vậy, da thịt xương gân sẽ không bị đùn lại và những cảm thọ nặng nề khi lưng đùn sẽ không sanh khởi. Nhờ ổn định được cảm thọ trong thân, tâm sẽ gắn chặt vào một cảnh duy nhất, sẽ không bị thất thoát án xứ và nhờ vậy việc tu thiền mới có chiều hướng tiến bộ. Câu nói “đặt niệm trước mặt” có nghĩa là tập trung chánh niệm, nhắm vào án xứ vậy. Ta cũng nên ghi nhận lời giải thích sau đây theo Paṭisambhidāmagga: “Tiếp đầu ngữ Pari trong tiếng parimukhaṃ có nghĩa là ghi nhận, nắm bắt44. Tiếng mukha có nghĩ là sự đẩy ra, tống khứ (niyyāna). Tiếng sati ở đây có nghĩa là sự an lập (upaṭṭhāna). Vậy nói gọn lại, câu nói “đặt niệm trước mặt” theo Paṭisambhidāmagga có nghĩa là tác niệm sự tống khứ (phiền não đối nghịch - paṭipakkhadhamma) mà mình đã ghi nhận (pariggahitaniyyānaṃ satiṃ karoti).

Câu Chánh Tạng: “Vị Tỳ kheo ấy chánh niệm thở ra, thở vào” có nghĩa là sau khi đã ngồi đúng tư thế xếp bằng như đã nói trên thì vị hành giả bắt đầu chánh niệm vào từng hơi thở ra vào của mình. Và khi sống như vậy, vị hành giả được gọi là satokāri, người có chánh niệm thường xuyên, như Ngài Sāriputta cũng nói trong Paṭisambhidāmagga rằng “Vị Tỳ kheo ấy (có) chánh niệm thở ra, chánh niệm thở vào” và Ngài phân tích thêm là satokārī phải là người tác niệm trên cả 32 chi tiết trong hơi thở, mà chánh niệm đó phải thật vững mạnh và kết hợp với trí tuệ (ñāṇa). Chánh niệm ở đây là sự ghi nhận án xứ hơi thở một cách chặt chẽ, còn trí tuệ trong trường hợp này là sự tác ý xả ly hay xả ly tùy quán (paṭinissaggānupassī) trong mỗi hơi thở ra vào.

Hai từ AssāsaPassāsa được định nghĩa mỗi chỗ mỗi khác. Trong Samantapasādikā (chú giải Tạng Luật) thì Assāsa là hơi thở ra còn Passāsa là hơi thở vào. Còn theo chú giải tạng Kinh thì Assāsa là hơi thở vào, Passāsa là hơi thở ra. Nói về hơi thở dài, ngắn thì điều đó y cứ vào thời gian. Nếu hơi thở ra kéo dài thời gian thì gọi là hơi thở ra dài, nếu hơi thở ra không mất thời gian nhiều thì gọi là hơi thở ra ngắn, đối với hơi thở vào cũng dựa vào thời gian mà gọi là dài hay ngắn, giống như vậy.

Khi hành giả ghi nhận được hơi thở ra vào dài với 9 khía cạnh thì nên biết rằng vị ấy đã tu tập thân quán niệm xứ trong từng khía cạnh một. Về 9 khía cạnh này, Ngài Sāriputta đã nói như sau trong Paṭisambhidāmagga:

- Thế nào là vị Tỳ kheo đang thở ra dài, biết mình đang thở ra dài, đang thở vào dài, biết mình đang thở vào dài? Ở đây, vị ấy thở hơi ra dài trong lúc ghi nhận được (nó) dài, thở vào dài trong lúc ghi nhận được rằng (nó) “dài”, vị ấy thở ra vào dài trong lúc ghi nhận rằng (nó) “dài”, nhờ ghi nhận tỉ mỉ như vậy, chanda khởi lên, nhờ chanda khởi lên vị ấy thở hơi ra dài một cách vi tế hơn, trong lúc vẫn ghi nhận được rằng dài, nhờ chanda vị ấy thở hơi vào dài vi tế hơn, trong lúc vẫn ghi nhận rằng “dài”, nhờ chanda vị ấy thở hơi ra vào dài vi tế hơn trong khi vẫn ghi nhận rằng dài.

Nhờ chanda khởi lên như vậy, pāmujja sinh khởi, nhờ pamujja… (giống như trên), nhờ pamujja khởi lên vậy, tâm rút khỏi (vivaṭṭati) hơi thở và xả được trú vững.

Đó là 9 khía cạnh trong hơi thở dài. Trong khi dùng chánh niệm và trí tuệ tùy quán để quán xét thân này qua hơi thở ra vào dài bằng 9 khía cạnh như vậy, vị hành giả được xem như đã tu tập thân quán niệm xứ. Đối với hơi thở ra vào ngắn, hành giả cũng ghi nhận bằng cách thức tương tự, với những thay đổi cần thiết. Hễ hiểu được phần trước thì biết được phần này. Đây là câu kệ tóm lược:

Dīgho rassa ca assāso Passāsopi ca tādiso
Cattāro vaṇṇā vattanti Nāsikaggeva bhikkhuno


“Hơi thở ra có hai loại: dài và ngắn. Hơi thở vào cũng thế.
Bốn loại hơi thở này lưu thông trên chóp mũi của vị Tỳ kheo”.

Nói tóm lại, gọi là hơi thở dài ngắn tức là dựa vào thời gian kéo dài của mỗi hơi thở.

Câu Chánh Tạng “ta sẽ làm hiển lộ toàn thân (sabbakāyappaṭisaṃvedī) rồi thở ra vào” có nghĩa là hành giả tâm niệm rằng ta sẽ làm cho chặng đầu, chặng giữa và chặng cuối của hơi thở được hiển lộ, rồi mới thở. Khi hành giả thở ra vào với tâm niệm như thế, được gọi là thở bằng một nội tâm tương ưng trí tuệ vậy. Đối với một số hành giả, chặng đầu của hơi thở được hiển lộ, nhưng hai chặng sau thì không hiển lộ cho nên các vị ấy chỉ ghi nhận được chặng đầu của hơi thở thôi, còn muốn ghi nhận luôn hai chặng sau thì quả thật khó khăn. Có một số hành giả chỉ ghi nhận được chặng giữa của hơi thở vì nó hiển lộ đến vị ấy, còn hai chặng kia thì mơ hồ. Ngược lại có những hành giả lại nắm bắt chặng cuối của hơi thở một cách dễ dàng, trong khi hai chặng đầu thì không hiển lộ rõ ràng, và cũng có những hành giả ghi nhận tinh tường cả ba giai đoạn của hơi thở, không vướng vít trong chặng nào của hơi thở cả.

Khi thuyết câu Chánh Tạng trên đây, Đức Thế Tôn muốn nhắc vị hành giả nên là hạng cuối cùng vừa kể, tức là ghi nhận được cả ba chặng đầu, giữa và cuối của hơi thở ra vào.

Tiếng học tập (sikkhati) trong câu Chánh Tạng: “Vị Tỳ kheo học tập như vầy: Ta sẽ...” là chỉ cho những cố gắng trau dồi Tam học. Ở đây, sự thu thúc trong lúc niệm hơi thở chính là Tăng thượng Giới học. Định có mặt trong lúc tu tập ấy được gọi là Tăng thượng Tâm học. Trí tuệ trong sự tu tập ấy chính là Tăng thượng Tuệ học. Hành giả luôn tập hành phát triển Tam học bằng sự gom tâm vào cảnh như vậy (hay nói rõ hơn, trong lúc gom tâm vào cảnh như vậy, tức là hành giả đã tập-hành, phát triển Tam học).

Giai đoạn tiên khởi, hành giả chỉ thao tác hơi thở mà thôi, nhưng giai đoạn tiếp đó phải là làm cho trí tuệ sinh khởi. Chính vì vậy, trong những câu Chánh Tạng đầu tiên, Bậc Đạo Sư chỉ nói rằng:

“Vị ấy biết mình đang thở ra, vị ấy biết mình đang thở vào” và Ngài cố tình dùng thì hiện tại trong động từ: Assāsāmīti pajānāti passasāmīti pajānāti.

Nhưng trong những câu sau Bậc Đạo Sư lại dùng thì vị lai cho động từ:
Sabbakāyappaṭisaṃvedī assasissāmīti: "Ghi nhận toàn thân, ta sẽ thở ra...";

hoặc

Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmīti sikkhati, passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmīti sikkhati:
“Vị ấy học tập như sau: Sau khi làm lắng dịu hơi thở (thân hành), ta sẽ thở ra, ta sẽ thở vào,";

hoặc

oḷārakaṃ kāyasaṅkhāraṃ passambhento paṭipassambhento nirodhento vūpasamento assasissāmi passasissāmīti sikkhati:
“Vị ấy học tập như sau: Ta sẽ thở ra vào, trong khi luồng hơi thở đang được làm lắng dịu, đang được làm lắng êm, đang được trừ diệt, đang được tịnh chỉ”.

Bây giờ chúng ta bàn về khía cạnh Thô (oḷārika), Tế (sukhuma) và Tĩnh (passaddhi) của hơi thở. Trước kia, khi chưa tu thiền hơi thở thì thân tâm chưa được ghi nhận, chú niệm thì thân tâm hành giả bị bức bách, bực bội và rất thô thiển. Khi thân tâm bực bội và thô thiển như vậy, hơi thở cũng rất thô thiển, có thể nói đôi khi thở bằng mũi không đủ, người ta phải thở bằng miệng nữa.

Khi nào thân tâm đã được ghi nhận thì chúng trở nên yên tĩnh, sâu lắng. Khi thân tâm trong tình trạng sâu lắng, yên tĩnh như vậy, hơi thở ra vào cũng trở nên vi tế hơn. Vi tế đến mức mà đến cả vị hành giả phải nghi hoặc không biết mình có còn thở hay không.

Giống như một người đàn ông vác món đồ nặng chạy từ ngọn núi xuống đất, dĩ nhiên anh ta cảm thấy mệt mỏi khủng khiếp và há mồm ra để thở. Tới khi vất món đồ nặng nề kia xuống đất rồi đi xuống sông tắm rửa mát mẻ, xong xuôi anh ta trở lên ngồi nghỉ dưới một bóng cây, lúc đó anh ta sẽ cảm thấy hơi thở của mình vi tế đến độ khó có thể biết rằng mình còn thở hay không. Đối với vị hành giả tu thiền hơi thở cũng tương tự như vậy.

Khi chưa tu thiền thì hơi thở rất ư thô thiển, tới lúc đã tu thiền hơi thở rồi thì nó sẽ vi tế hơn. Tại sao lại như thế? Bởi vì, trước kia vị ấy không có sự quán sát và tác ý vào hơi thở với mục đích làm cho nó sâu lắng vi tế. Còn bây giờ, khi đã tu thiền hơi thở rồi, vị hành giả có sự tác ý vào hơi thở để kiềm hãm và tỉnh hóa nó, nên nó trở nên vi tế hơn trước. Về điều này, các bậc Đại Sư tiền bối đã nói như sau:

Sāraddhe kāyacitte ca Adhimattaṃ pavattati
Asāraddhamhi kāyamhi Sukhumaṃ sampavattatīti


“Khi thân tâm còn bị tán động thì chúng luôn sinh hoạt diễn tiến một cách thái quá. Một khi không còn tán động nữa thì thân tâm sẽ diễn tiến một cách vi tế”.

Theo ý kiến của các vị chuyên môn về Trường Bộ và Tương Ưng Bộ thì hơi thở trong giai đoạn được ghi nhận một cách thông thường vẫn còn thô thiển nếu so với giai đoạn cận định (cận định của sơ thiền). Hơi thở trong giai đoạn cận định của sơ thiền vẫn còn thô thiển nếu so với hơi thở trong giai đoạn sơ thiền. Hơi thở trong giai đoạn sơ thiền vẫn còn thô thiển nếu so với giai đoạn cận định của Nhị thiền. Hơi thở trong giai đoạn cận định của Nhị thiền vẫn còn thô thiển khi so với giai đoạn Nhị thiền. Hơi thở trong giai đoạn Nhị thiền vẫn còn thô thiển khi so với giai đoạn cận định của Tam thiền. Hơi thở trong giai đoạn này vẫn còn thô thiển khi so với giai đoạn Tam thiền. Hơi thở trong giai đoạn Tam thiền vẫn còn thô thiển khi so với giai đoạn cận định của Tứ thiền.

Hơi thở trong giai đoạn đó vẫn còn thô thiển khi so với giai đoạn Tứ thiền. Ở giai đoạn này không còn hơi thở nữa (atisukhumo appavattimeva pāpuṇāti).

Còn các vị chuyên về Trung Bộ thì nói như sau: “Hơi thở trong giai đoạn Sơ thiền vẫn còn thô thiển, hơi thở trong giai đoạn Nhị thiền mới vi tế, hơi thở trong giai đoạn các tầng thiền cao luôn vi tế hơn hơi thở trong các tầng thiền thấp (heṭṭhimaheṭṭhimajjhānato uparūparijjhānupacārepi sukhumataraṃ).

Một số vị A Xà Lê khác thì bảo rằng: Dạng hơi thở trong giai đoạn chưa được ghi nhận sẽ được lắng yên khi đã được ghi hận, dạng hơi thở trong giai đoạn “đã được ghi nhận” sẽ được lắng yên khi hành giả đã tiến đạt cận định của Sơ thiền. Dạng hơi thở này sẽ được lắng yên khi tiến đạt Sơ thiền, cứ thế và cứ thế tuần tự theo từng giai đoạn mà hơi thở mỗi lúc càng vi tế dần. Nãy giờ là nói về quá trình hơi thở theo thiền Chỉ. Bây giờ nói qua Quán, những giai đoạn thô, tế của hơi thở trong quá trình tu Quán.

Khi chưa được ghi nhận thì hơi thở luôn luôn thô thiển, tới lúc hành giả ghi nhận được tứ đại thì hơi thở trở nên vi tế hơn. Hơi thở trong giai đoạn hành giả ghi nhận được tứ đại vẫn còn thô thiển nếu so với lúc ghi nhận được các sắc Y đại sinh. Trong lúc ghi nhận được các sắc Y đại sinh hơi thở vẫn còn thô thiển nếu so với lúc ghi nhận tất cả Sắc (cả tứ đại lẫn Y đại sinh). Hơi thở trong lúc ghi tất cả Sắc vẫn còn thô thiển nếu so với lúc ghi nhận cảnh danh pháp (arūpa). Hơi thở trong giai đoạn này vẫn còn thô thiển nếu so với lúc ghi nhận cả danh lẫn sắc. Hơi thở trong giai đoạn này vẫn còn thô thiển nếu so với lúc ghi nhận duyên trợ. Hơi thở trong giai đoạn này vẫn còn thô thiển nếu so với lúc thấy được danh sắc cùng với duyên trợ (sappaccayanāmarūpadassane). Hơi thở trong giai đoạn này vẫn còn thô thiển nếu so với lúc tuệ quán xét tới khía cạnh Tam tướng của cảnh danh sắc (lakkhaṇārammaṇikāya vipassanā). Hơi thở trong giai đoạn thiền tuệ non yếu vẫn còn thô thiển so với lúc tiến đạt các thiền tuệ cao (thiền tuệ mạnh). Cứ thế, hơi thở trong mỗi giai đoạn sau luôn vi tế hơn các giai đoạn trước (purimassa purimassa pacchimena pacchimena paṭipassaddhi).

Theo Paṭisambhidāmagga tiếng Thân Hành (kāyasaṅkhāra) trong câu Chánh Tạng: “Vị Tỳ kheo tâm niệm rằng sau khi làm an tĩnh thân hành ta sẽ thở ra thở vào có nghĩa là ám chỉ hơi thở dài vậy (dīghaṃ assāsapassāsakāyika). Có vài ý kiến cho rằng nếu cứ dựa vào hơi thở mãi như vậy thì không thể nào đắc định được, bởi khi còn hơi thở thô thiển thì vị Tỳ kheo còn có thể tâm niệm rằng: “Sau khi an chỉ hơi thở cho hơi thở vi tế hơn nữa, ta sẽ thở ra vào”, tới một lúc nào đó hơi thở đi đến tình trạng vi tế mà gần như không có nữa thì vị Tỳ kheo sẽ làm sao? Một số ý kiến khác lại cho rằng cứ dựa vào Chánh Tạng thì đắc Định thôi.

Điều này ta nên hiểu như thế nào? Sau đây là một ví dụ mà ta có thể nương theo đó để lý giải. Khi một cái kẻng vừa được đánh lên, âm thanh còn rõ ràng, lúc đó người ta nghe được là đã đành, nhưng rồi mỗi lúc tiếng ngân đó càng nhỏ dần, người ta cũng còn nghe được. Tới lúc âm hưởng của tiếng kẻng hầu như nín bặt hoàn toàn nhưng cái tâm lắng nghe của người ta vẫn còn nắm bắt được.

Trong trường hợp này cũng thế, buổi đầu hơi thở của hành giả còn thô thiển, hành giả ghi nhận được nó, điều đó khỏi phải nói, rồi tới một giai đoạn nào đó, hơi thở mỗi lúc càng vi tế hơn, tâm tư vị ấy cũng ghi nhận được, và cho đến khi hơi thở gần như không còn nữa, nhưng tâm tư hành giả vẫn như còn chú niệm vào đấy, không khuếch tán hướng ngoại. Như vậy, vị ấy cũng có thể nhập định được.

Trong quá trình tu tập ấy, hơi thở chính là thân, sự an lập (nội tâm vào cảnh) chính là niệm, và sự tùy quán chính là trí. Như vậy chú niệm hơi thở theo phương án này có nghĩa là hành giả đã tu tập Thân quán niệm xứ.

CATUKKA THỨ NHẤT

Trong án xứ hơi thở này có 4 catukka, gom chung lại thành 16 câu thiệu để tâm niệm:
  1. Dīghaṃ vā assasanto dīghaṃ assasāmīti pajānāti. Dīghaṃ vā passasanto dīghaṃ passasāmīti pajānāti.
  2. Rassaṃ vā assasanto dīghaṃ assasāmīti pajānāti. Rassaṃ vā passasanto dīghaṃ passasāmīti pajānāti.
  3. Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmīti sikkhati. Sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmīti sikkhati.
  4. Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmīti sikkhati.
    Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmīti sikkhati.
  5. Pītipaṭisaṃvedī assasissāmīti sikkhati. Pītipaṭisaṃvedī passasissāmīti sikkhati.
  6. Sukhapaṭisaṃvedī passasissāmīti sikkhati. Sukhapaṭisaṃvedī passasissāmīti sikkhati.
  7. Cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assasissāmīti sikkhati. Cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī passasissāmīti sikkhati.
  8. Passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assasissāmīti sikkhati.
    Passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ passasissāmīti sikkhati.
  9. Cittapaṭisaṃvedī assasissāmīti sikkhati.Cittapaṭisaṃvedī passasissāmīti sikkhati.
  10. Abhippamodayaṃ cittaṃ assasissāmīti sikkhati.Abhippamodayaṃ cittaṃ passasissāmīti sikkhati.
  11. Samādahaṃ cittaṃ assasissāmīti sikkhati.Samādahaṃ cittaṃ passasissāmīti sikkhati.
  12. Vimocayaṃ cittaṃ assasissāmīti sikkhati.Vimocayaṃ cittaṃ passasissāmīti sikkhati.
  13. Aniccānupassī assasissāmīti sikkhati.Aniccānupassī passasissāmīti sikkhati.
  14. Virāgānupassī assasissāmīti sikkhati.Virāgānupassī passasissāmīti sikkhati.
  15. Nirodhānupassī assasissāmīti sikkhati. Nirodhānupassī passasissāmīti sikkhati
  16. Paṭinissaggānupassī assasissāmīti sikkhati. Paṭinissaggānupassī passasissāmīti sikkhati.

Trong 16 câu thiệu này (vatthu), 4 câu đầu chỉ là giai đoạn thao tác án xứ của hành giả lúc ban đầu mới tu tập, còn 12 câu sau (hay 3 catukka) thì nói về 3 niệm xứ sau: Thọ quán niệm xứ, Tâm quán niệm xứ và Pháp quán niệm xứ của hành giả lúc đã chứng thiền trong catukka đầu tiên. Người thiện nam tử muốn tu tập án xứ này để chứng đạt La quán quả cùng tuệ phân tích, sau khi đã lấy Tứ thiền của đề mục hơi thở làm nền tảng thì trước hết phải giữ gìn giới hạnh cho thanh tịnh, rồi đi học 5 điều quan hệ (sandhi) của án xứ từ vị Thiền sư. Năm điều quan hệ đó là:

  1. Uggaha: Việc học (lý thuyết) của đề mục.
  2. Paripucchā: Hỏi tỉ mỉ những điều cần biết trong đề mục.
  3. Upaṭṭhāna: Sự chú niệm trong đề mục.
  4. Appanā: Sự tiến đạt Kiên cố định trong đề mục.
  5. Lakkhaṇa: Nắm rõ tướng của đề mục.

Nhờ học rành 5 điều quan hệ này trong khi tu tập, cá nhân hành giả không bị vất vả, mà cả vị Thầy cũng không bị phiền rộn. Hành giả nhớ đừng để thầy mình giảng giải nhiều quá. Hành giả nên bỏ ra ít thời gian để nhẩm đọc những gì đã học về 5 điều quan hệ, rồi có thể ở gần thầy hoặc tìm đến một chỗ nào đó mà phải là trú xứ thích hợp như là đã nói ở trước. Trước khi tu thiền, hành giả phải dàn xếp cho xong mọi bận rộn, nếu vừa thọ thực xong thì phải cố gắng điều phục tình trạng say cơm (trạng thái buồn ngủ lúc ăn no) và ngồi thật thoải mái. Sau đó, tự phấn hóa nội tâm bằng cách suy tưởng ân đức Tam Bảo rồi mới bắt đầu tác ý đến án xứ hơi thở theo từng lời dạy của thầy.

Nói về phương án tác ý án xứ, có tất cả 8 giai đoạn (manasikāravidhi):

1- Gaṇanā:

Trước hết hành giả tác ý hơi thở bằng cách đếm số. Nhớ không nên đếm quá số 10, không dưới số 5 và đừng đếm rời rạc, lơi lỏng. Nếu đếm dưới số 5 thì tâm hành giả sẽ bị bức bách, gò bó trong phạm vi tù túng như cả bầy bò phải chen nhau qua một lối hẹp. Còn nếu đếm quá số 10 thì tâm hành giả bị lệ thuộc trong những con số. Nếu đếm rời rạc, đứt quãng thì hành giả khó biết được rằng mình đã tác ý án xứ một cách đúng mức chưa. Trong lúc đếm hơi thở, hành giả nhớ tránh những điều vừa nói trên.

Buổi đầu hành giả nên đếm một cách thong thả như người ta đong lúa vậy. Cứ mỗi bận xúc một phần lúa thì đếm 1, 2, 3... Ở đây cũng thế, cứ mỗi hơi thở hiển lộ thì hành giả đếm 1, từ số 1 đến số 10. Theo dõi chúng liên tục để kịp thời đếm số. Tới một lúc nào đó hơi thở ra vào trở nên mau lẹ hơn thì hành giả phải lập tức bỏ đi lối đếm thong thả ấy để đếm nhanh hơn, giống như cách đếm bò của người mục đồng. Cứ mỗi sáng người mục đồng cầm một số hạt sỏi đến chuồng bò, ngồi ngay cửa ra vào rồi lấy cây đánh lên lưng bò để lùa chúng ra ngoài. Cứ mỗi con đi ra là anh ta ném một hòn sỏi rồi đếm 1, 2... Rồi có thể là do bị nhốt suốt đêm trong chuồng chật hẹp, bầy bò sẽ chen nhau chạy ra ngoài. Khi chúng chạy ra quá nhanh như thế, người mục đồng phải tranh thủ ném sỏi và đếm thật mau 1, 2, 3, 4, 5, 10...

Ví dụ trên như thế nào thì sau một thời gian đầu hơi thở còn rõ rệt, dần dần rồi sẽ trở nên mau lẹ hơn. Khi biết hơi thở mình đã mau lẹ thì hành giả phải đếm số mau hơn. Mà điều cần nhớ là không nên “chờ đón” hơi thở từ bên trong hay “theo đuổi” nó đến tận bên ngoài, mà chỉ cần chú niệm ngay chỗ ra vào của nó thôi, đó là lỗ mũi. Hành giả phải đếm số theo cách thức như sau: 1, 2, 3, 4, 5 - 1, 2, 3, 4, 5, 6 - 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 - 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 - 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 - 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10.

Khi ghi nhận hơi thở bằng lối đếm như vậy thì tâm hành giả sẽ được an trụ giống như con thuyền được đứng yên trên dòng nước chảy xiết nhờ cây sào chống. Lúc đến mau lẹ như thế, án xứ hơi thở hiện rõ rệt một cách liên tục, không gián đoạn. Biết rằng án xứ của mình đang hiển lộ liên tục, hành giả càng đếm nhanh hơn. Sở dĩ hành giả không được chờ đón hơi thở từ bên trong (ghi nhận từ bên trong) là vì như vậy, hành giả sẽ cảm thấy tức bụng hoặc no hơi, như chứa đầy một bụng mỡ. Còn nếu cứ chạy theo hơi thở ra tận bên ngoài thì tâm lập tức bị phóng tán, hướng ngoại.

Hành giả chỉ nên để tâm vào lỗ mũi, nhờ vậy việc tu tập mới có kết quả tốt đẹp. Chính vì những lý do trên nên hành giả không được ghi nhận hơi thở từ bên trong hay ra đến tận bên ngoài.

Nhưng đối với hơi thở ra vào ấy, ta nên đếm trong khoảng thời gian bao lâu? Xin trả lời rằng: Hành giả đếm cho đến lúc nào mà chánh niệm được trú vững trong cảnh hơi thở thì thôi, không nên dùng cách đếm số để ghi nhận hơi thở nữa. Bởi vì muốn đếm số người ta phải chặn đứng Tầm, sự hướng ngoại để an lập chánh niệm vào cảnh hơi thở. Cho nên sau khi đã vượt qua giai đoạn cần đếm số, thì hành giả phải thực hiện tiếp phương án thứ hai.

2- Anubandhanā:

Sau khi đã bỏ lối tác ý hơi thở bằng cách đếm số rồi, hành giả nên dùng chánh niêm bám sát hơi thở một cách liên tục. Bám sát không có nghĩa là chạy theo hơi thở trong suốt cả ba cứ điểm của nó. Cứ điểm đầu tiên của hơi thở ra là lỗ rún, cứ điểm giữa là trái tim (vùng ngực) và cứ điểm cuối là lỗ mũi hay chóp mũi (Nāsikagga). Cứ điểm đầu tiên của hơi thở vào là chóp mũi, cứ điểm giữa là vùng trái tim, cứ điểm cuối cùng là lỗ rún. Nếu hành giả chạy theo hơi thở trên suốt ba chặng cứ điểm đó thì tâm sẽ bị phóng tán, loạn động, lao chao. Như Ngài Sāriputta đã thuyết: Khi vị Tỳ kheo bám sát hơi thở ra (assāsa) trên ba cứ điểm của nó thì cả thân lẫn tâm của vị ấy sẽ bị chao động, bị bức bách vì nội tâm đã loạn động từ bên trong. Nếu vị Tỳ kheo để tâm chạy theo hơi thở vào trên suốt ba cứ điểm của nó thì cả thân lẫn tâm của vị ấy cũng sẽ bị chao động, bị bức bách vì nội tâm đã hướng ngoại và khuếch tán ra ngoài. Do đó, hành giả không nên bám sát hơi thở theo ba cứ điểm của nó làm gì, chỉ nên tác ý đến sự xúc chạm (phussanā) và sự an lập (ṭhapanā) mà thôi.

3- Phussanā 4- Ṭhapanā:

Cách tác ý hơi thở bằng hai phương án này phải đi chung với nhau, chứ không thể tách rời nhau như hai cách đầu tiên được.

Các Ngài bảo rằng khi đếm số hơi thở tại điểm xúc chạm của nó, thì tức là hành giả đã tác ý bằng cách đếm và xúc chạm rồi. Rồi sau khi bỏ lối đếm số, dùng chánh niệm bám sát án xứ và an lập tâm bằng Kiên cố định thì hành giả được gọi là đã tác ý hơi thở bằng sự xúc chạm và sự an lập. Để minh họa vấn đề này, trong Atthakathā và paṭisambhidā đã đưa ra một vài ví dụ như sau: Có một người què ngồi dưới chân các xích đu. Muốn biết cái xích đu đong đưa về phía nào, anh ta khỏi cần dán mắt nhìn theo nó làm gì cho rộn, chỉ cần nhìn lên chỗ máng xích đu, anh ta cũng biết được.

Hoặc giống như một người gác cổng, muốn biết có người ra vào hay không, anh ta cứ việc để mắt nhìn vào ngạch cửa thì biết ngay, không cần phải nhìn người ta từ xa hay dán mắt nhìn theo khi người ta đã đi qua cổng. Điều đó như thế nào, thì ở đây cũng thế, vị Tỳ kheo tu tập án xứ hơi thở chẳng cần bám sát hơi thở theo từng cứ điểm của nó làm gì, chỉ cần chú niệm vào chỗ lỗ mũi, nơi hơi thở xúc chạm là đủ.

Các Ngài còn đưa ra ví dụ về cái cưa, cũng với khía cạnh tương tự. Trưởng lão Sāriputta bảo rằng: “hơi thở ra, hơi thở vào và ấn chứng (nimitta) không thể cùng lúc làm cảnh cho một cái tâm được, tức là một cái tâm không thể cùng lúc biết được cả ba cảnh đó. Khi vị Tỳ kheo không biết được ba cảnh này thì coi như không chứng đạt mục đích tu tập. Một khi biết được ba cảnh này thì vị Tỳ kheo thành đạt mục đích tu tập”.

Ta nên hiểu điều này như thế nào? Đây là lời giải đáp: Dù tâm không thể trong một lúc mà biết được cả 3 cảnh: hơi thở ra, hơi thở vào và ấn tướng nhưng không phải vì vậy mà vị hành giả không biết tới chúng. Tuy tâm vị ấy vẫn không loạn động (vikkhepa) và vẫn luôn tinh cần, nỗ lực, hướng tới sự chứng đạt Thượng pháp. Giống như có một cội cây bị đắn ngã trên mặt đất bằng, rồi có người đàn ông nọ đem cưa đến để xẻ nó. Trong lúc cưa, tâm trí ông cứ để ở chỗ răng cưa cứa vào thỏi, chẳng cần để ý tới cái đi tới, cái đi lui của lưỡi cưa làm gì. Nhưng không phải vì vậy mà ông không biết rằng lưỡi cưa đang di động tới lui, dù rằng lúc đó ông vẫn không ngừng tập trung sức lực để cưa khúc cây bị đốn ngã trên mặt đất bằng tượng trưng cho gián tiếp ấn chứng (upanibandhanānimitta), các răng cưa tượng trưng cho hơi thở ra vào, việc người đàn ông chỉ chú ý đến chỗ cứa của răng cưa mà chẳng lưu ý thì đến sự di động tới lui của lưỡi cưa nhưng không phải vì vậy mà không biết rằng các răng cưa đang di động. Tuy rằng ông ta vẫn đang ra sức kéo cưa, điều đó tượng trưng cho việc hành giả ngồi tập trung chánh niệm nơi lỗ mũi hay môi (mukhanimitta) mình, dầu không tác ý rằng hơi thở đang ra vào nhưng không phải do vậy mà không biết tới sự ra vào của chúng, tuy lúc đó vẫn không ngừng nỗ lực hướng tới sự chứng đạt thượng pháp.

Tiếng “tinh cần” trên đây chỉ cho sự cố gắng dứt trừ tùy phiền não của vị ấy. Tiếng Payoga trên đây chỉ cho sự an chỉ của Tầm. Thượng pháp ở đây chỉ cho sự đoạn tận tiềm miên phiền não.

Tóm lại, hơi thở ra vào và ấn chứng là ba cảnh không thể được tâm biết trong cùng một tâm nhưng không phải vị Tỳ kheo không biết chúng, tuy lúc đó vị ấy vẫn không bị loạn động, sự tinh cần vẫn được duy trì, payoga vẫn thành tựu trọn vẹn để sẵn sàng hướng tới thượng pháp.

Ai tu tập thành mãn pháp môn hơi thở một cách tuần tự và đúng đắn theo lời dạy của Bậc Đạo Sư thì sẽ làm cho thế gian này sáng chói như vầng trăng thoát khỏi mây che.

Tới một lúc nào đó, đạt đến giai đoạn vừa kể, tức là không tác ý gì đến cái ra vào của hơi thở nữa, thì đó được xem như hành giả đã thành công trong việc tu tập. Có những hành giả mới bắt đầu tác ý đến án xứ hơi thở, chưa được bao lâu thì ấn chứng đã hiện khởi và các chi thiền lần lượt có mặt để dọn đường cho Kiên cố định sanh lên. Hoặc có những hành giả kể từ khi ghi nhận hơi thở bằng cách đếm số thì thân của vị ấy đã bắt đầu nhẹ nhàng vi tế dần, cả tâm tư vị ấy cũng sâu lắng theo, vị ấy sẽ cảm thấy thân mình như sắp bay bổng lên. Như đối với người lung lăng thì khi ngồi trên giường, chõng luôn ọp ẹp, lúc lắc, còn đối với người đằm thắm thì giường chõng mà họ ngồi cứ đứng yên, không lúc lắc, cọt kẹt gì cả. Điều đó như thế nào thì khi vị hành giả điều hành thân mình cho êm thắm bằng cách đếm số hơi thở ra vào, hơi thở thô thiển của vị ấy sẽ dần dần được an chỉ, vị ấy sẽ có cảm giác như đang bay bổng trên không trung. Khi hơi thở thô thiển đã được an chỉ thì tâm có ấn chứng sẽ khởi lên, ấn chứng ở đây là sự vi tế của hơi thở, tâm của hành giả lúc này lấy hơi thở vi tế làm cảnh. Khi tâm ấy diệt trừ đi thì tâm mà có cảnh là hơi thở vi tế hơn sẽ khởi lên. Như Ngài Sāriputta đã ví dụ về cái kẻng. Khi cái kẻng mới được đánh lên, âm thanh còn vang lớn thì chỉ cần cái tâm thiển cũng ghi nhận được, rồi càng lúc tiếng ngân của nó càng nhỏ dần, muốn nghe được nó người ta phải có một cái tâm sâu lắng, tinh tế hơn.

Đối với các án xứ khác, càng tu tập thì càng hiển lộ rõ rệt.

Còn đối với án xứ hơi thở, càng tu tập thì nó càng vi tế hơn, chứ không còn hiển hiện rõ rệt như buổi ban đầu nữa. Nếu thấy hơi thở của mình đã mất, hành giả không nên bỏ cuộc mà phải tự giải quyết bằng cách khác. Hành giả không nên tìm đến ông thầy làm gì, và cũng đừng buồn rằng án xứ của mình đã mất. Sở dĩ như vậy vì khi hành giả chuyển đổi oai nghi thì án xứ lập tức trở lại giai đoạn thô thiển của buổi đầu. Lúc đó, hành giả nên ngồi yên rồi suy xét: “Hơi thở có ở đâu? Đối với ai không có hơi thở? Không có ở đâu? Đối với ai mới có hơi thở?”. Rồi hành giả suy xét tiếp “Hơi thở hằng không có đối với hài nhi trong bụng mẹ, không có với người lặn dưới nước, không có với chúng sanh vô tưởng, không có với người chết, không có với người nhập tứ thiền, không có với chúng sanh cõi Sắc giới, không có với chúng sanh cõi Vô sắc giới, không có với vị nhập thiền diệt. Và hành giả nên tự trách mình như sau: “Này kẻ hiền trí, ngươi không phải là người nào trong những hạng người vừa kể, vậy hơi thở của ngươi vẫn có, chỉ vì trí tuệ của ngươi quá non kém nên không thể ghi nhận được đấy thôi”.

Sau đó, hành giả nên chú niệm vào chỗ xúc chạm của hơi thở ra vào (môi trên hoặc lỗ mũi) rồi tiếp tục tác ý án xứ. Đối với người mũi dài thì hơi thở chạm vào mũi, với người mũi ngắn thì hơi thở chạm vào môi trên. Hành giả nên ghi nhận hơi thở của mình tại một trong hai cứ điểm đó. Chính vì liên hệ tới ý nghĩa này nên Bậc Đạo Sư đã thuyết rằng: “Này các Tỳ kheo! Ta không dạy án xứ hơi thở đến người thất niệm, không biết mình”.

Mà quả thật, đối với bất cứ án xứ nào cũng thế, cũng chỉ thành tựu cho người có chánh niệm biết mình mà thôi. Điều đáng lưu ý, đối với các án xứ khác chỉ cần Định mạnh là có thể tu tập.

Riêng về án xứ hơi thở này là một đề mục rất khó tu tập, án xứ này là đề mục dành riêng cho những bậc Đại nhân, đại trí, hạng thường nhân không thể tu tập được, bởi vì những người tầm thường làm sao ghi nhận được cái vi tế của án xứ. Cho nên muốn tu tập án xứ này, đòi hỏi phải có chánh niệm và trí tuệ vững mạnh. Giống như muốn may miếng vải mịn, nhuyễn thì người ta phải dùng tới cây kim thật nhỏ, sợi chỉ thật nhuyễn. Cũng vậy, muốn ghi nhận án xứ hơi thở phải dùng tới cây kim chánh niệm và sợi chỉ trí tuệ.

Trí tuệ ở đây phải song hành với chánh niệm mới được.

Vị hành giả dồi dào Niệm Tuệ, không nên tìm kiếm hơi thở tại một cứ điểm nào khác ngoài ra chỗ hơi thở xúc chạm: lỗ mũi hoặc môi trên. Giống như anh chăn bò đi tìm con bò lạc vậy. Nếu như là người thông minh, anh ta sẽ không đi tìm đâu xa xôi cho mệt xác, anh ta chỉ cần cầm lấy dây đót và sợi dây đàm đến rình sẵn ở chỗ mà con bò thường tới lui như hồ nước chẳng hạn. Có đi đâu rồi, con bò cũng cảm thấy cần tới nước thôi, lúc ấy nó sẽ tìm đến hồ nước để uống, để làm gì đó. Lúc ấy anh chăn bò chỉ cần lấy dây cột nó lại, rồi lấy đót chích nó, dẫn về. Đối với vị hành giả tu thiền hơi thở cũng như thế, vị ấy không cần phải đi tìm hơi thở ở chỗ nào khác ngoài cứ điểm xúc chạm của chúng. Vị ấy chỉ cần chú niệm vào đấy bằng chánh niệm và trí tuệ, lập tức hơi thở sẽ hiển lộ rõ rệt. Lúc ấy, vị hành giả dùng sợi dây chánh niệm và cây đót trí tuệ ghi nhận nó, thế thôi.

Khi hành giả thực hành đúng phương pháp đó, không bao lâu sau, ấn chứng cũng khởi lên, ấn chứng trong thiền hơi thở đối với mỗi người mỗi khác, không ai giống ai. Có những hành giả thấy hơi thở của mình giống như cục bông gòn, bông vải hay giống như một cơn mưa rào, và hành giả sẽ cảm thấy sung sướng trong thân tâm. Đó là theo một số vị A Xà Lê thời xưa. Còn trong Atthakathā thì bảo rằng: Đôi khi ấn chứng của hơi thở hiện lên nơi hành giả giống như ngôi sao, như chuỗi ngọc maṇi, như chuỗi ngọc trai. Hoặc có hành giả thấy ấn chứng thô cứng như hạt gạo (kappāsaṭṭhi) hay giống như một miếng dăm lõi cây (dārusārasūci), có hành giả thì thấy giống như một sợi dãi dài (dīghapāmaṇgasutta), như một tràng hoa, như một luồng khói, có hành giả thì thấy ấn chứng giống như tơ nhện (vitthatamakkaṭakasutta), giống như cụm cây, giống như đóa hoa sen, như cái bánh xe, như vầng trăng hay giống như quầng sáng mặt trời. Aùn xứ thì chỉ có một nhưng ấn chứng thì đối với mỗi hành giả mỗi khác. Như có một nhóm Tỳ kheo ngồi tụng kinh, khi có người đến hỏi các Ngài thấy bài kinh này như thế nào, thì có người sẽ nói rằng tôi thấy giống như một con sông lớn chảy từ núi cao xuống. Có vị sẽ nói rằng tôi thấy bài kinh này có bố cục dính liền nhau như một dãy rừng. Vị khác sẽ bảo rằng tôi thấy bài kinh giống như một cội cây lớn sum xuê cành lá và có bóng mát. Như vậy, cùng đọc chung nhau một bài kinh nhưng cái cảm giác của mỗi người có khác nhau, bởi vì ai cũng có một tư tưởng riêng không ai giống ai cả. Trong án xứ này, cái quan trọng là tưởng (sađđā), có tưởng mới thành đạt được mục đích chứng ngộ. Mà như đã nói, mỗi người đều có tưởng sai biệt, nên ấn chứng cũng sai biệt. Tâm ghi nhận hơi thở ra là một cái tâm riêng, tâm ghi nhận hơi thở vào lại là một cái tâm khác, tâm ghi nhận ấn chứng cũng vậy. Mà đối với vị hành giả nào có ghi nhận được cả ba cảnh này mới có thể chứng đạt Cận định hoặc Kiên cố định. Còn như không ghi nhận được ba cảnh ấy thì nỗ lực tu tập hóa ra công toi.

Vì thế, Trưởng lão Sāriputta mới thuyết rằng:

Nimittaṃ assāsapassāsa
Anārammaṇamekacittassa
Ajānato ca tayo dhamme
Bhāvanā nupalabbhati
Nimittaṃ assāsapassāsā
Anārammaṇamekacittassa
Jānato ca tayo dhamme
Bhāvanā upalabbhatīti


“Án chứng và hơi thở ra vào không thể cùng lúc làm cảnh cho một cái tâm.
Thế nhưng, nếu không biết được ba cảnh này thì sự tu tập không thu gặt được kết quả gì.
Ba cảnh đó tuy không được một cái tâm ghi nhận cùng lúc,
nhưng nếu biết được chúng thì sự tu tập sẽ thu gặt được kết quả”.

Sau khi ấn chứng đã khởi lên rõ rệt, hành giả nên đi đến báo cho thầy dạy Thiền biết là mình đã thấy như thế nào, thế nào.

Còn về vị thầy thì không nên xác nhận đó có phải là ấn chứng hay không, mà chỉ nên ậm ừ cho qua, rồi nhắc nhở học trò ráng tác ý liên tục hơn nữa. Nếu vị thầy xác nhận với học trò rằng đó là ấn chứng thì học trò sẽ bị rơi vào tình trạng dậm chân tại chỗ (vosānaṃ āpajjeyya) vì nghĩ rằng ấn chứng là cái khó đạt mà nay mình đã đạt được vậy, cần gì phải tầm cầu cái khác nữa. Còn nếu vị thầy phủ nhận đó không phải là ấn chứng thì học trò sẽ thất vọng thối chí (nirāso visīdeyya) vì nghĩ rằng mình là kẻ vô phần (abbhabba) nên tuy tu tập đã lâu ngày nhưng ấn chứng cũng không khởi lên. Chính vì thế, khi học trò trình pháp về ấn chứng mà họ thấy thì vị Thiền sư chỉ nên nói với họ một câu duy nhất là “hãy cố gắng tác ý hơn nữa, hãy cứ thế mà phát triển”.

Theo các Ngài trì tụng Trung Bộ thì Thiền sư nên xác nhận cho học trò mình biết đó là ấn chứng, rồi sách tấn học trò, khích lệ họ ráng tác ý thêm. Sau đó, khi đã trình pháp xong, hành giả cần phải tác ý vào ấn chứng. Điểm quan yếu của giai đoạn này là sự an lập (ṭhapanā) nội tâm vào ấn chứng. Như các Bậc Đại Sư tiền bối đã nói:

Nimitte ṭhapayaṃ cittaṃ Nānākāraṃ vibhāvayaṃ
Dhīro assāsapassāse Sakaṃ cittaṃ nibandhati


“Khi an lập tâm vào ấn chứng, làm rõ nét các khía cạnh sai
biệt của nó, bậc hiền trí tự cột tâm mình vào hơi thở ra vô”.

Kể từ khi ấn chứng khởi lên, các triền cái cũng được đè nén, các phiền não nói chung cũng được tịnh chỉ, chánh niệm của hành giả trở nên vững mạnh và tâm được kiên trụ với cận định.

Thế rồi, hành giả không nên tác ý đến màu sắc của ấn chứng nữa, cũng không nên xét tới đặc điểm của nó làm gì. Và lúc này hành giả cần tránh 7 loại trú xứ bất tiện, tìm đến một trong 7 loại trú xứ thuận tiện, nên duy trì ấn chứng một cách thận trọng, kỹ lưỡng như người ta bảo vệ bào thai của mẹ vua Chuyển Luân Vương, hay như nhà nông chăm mon nụ lúa Sāli vậy. Xong rồi, hành giả nên tập trung chú niệm ấn chứng mãi cho đến khi nào 10 appanākossalla được viên đạt (sampādeti) và điều quan trọng là phải tinh cần một cách đúng cách, đúng mức, điều độ, quân bình (viriyasamatā yojeti). Từ đó, hành giả sẽ lần lượt tiến đạt các tầng thiền.

Sau khi chứng thiền xong, hành giả muốn chuyển qua tu tập thân quán niệm xứ thì phải nhập định để trau luyện 5 pháp tự tại (vasī) rồi mới bắt đầu ghi nhận danh sắc để tu Quán. Nhưng trình tự của công phu đó như thế nào? Ở đây, sau khi xuất định, hành giả sẽ thấy rằng thân tâm này là môi sinh, là cơ sở hiện khởi của hơi thở ra vào. Giống như luồng gió trong ống thụt bệ của người thợ rèn. Y cứ vào ống thụt bệ và sức cố gắng của người thợ rèn, luồng hơi ấy được tạo ra và di chuyển ra ngoài. Hơi thở ra vào cũng giống thế, chúng phải nương vào thân và tâm mới lưu thông được. Hành giả ghi nhận rằng hơi thở ra vào chính là Sắc, còn tâm và pháp tương ưng chính là Danh (arūpa-phi sắc). Ở đây, chỉ nói tóm lược như vậy, còn phần giải rộng thì nằm ở phần sau.

Sau khi nhận được danh sắc, hành giả đi đến bước thứ hai, là suy quán duyên trợ danh sắc47. Khi tìm thấy duyên trợ danh sắc rồi thì hành giả hướng tâm đến diễn biến của danh sắc trong ba thời để đoạn trừ Tam thế nghi hoặc. Sau khi nghi hoặc đã được vượt qua, hành giả tác ý đến tam tướng của danh sắc theo từng phần tử trong chúng. Thế rồi, trong lúc Sanh diệt tùy quán vừa khởi lên, hành giả đoạn trừ 10 tùy phiền não của Thiền Quán. Khi đã thoát khỏi các tùy phiền não, hành giả nhận thức được rằng:

“Đạo lộ trí (paṭipadāđāṇa) mà vượt ra 10 tùy phiền não ấy chính là Đạo lộ đúng đắn nhất”. Sau khi loại trừ ý niệm về sanh tồn (udaya), hành giả đạt đến Hoại tán tùy quán (bhaṅgānupassanā).

Nhờ Hoại tán tùy quán có mặt liên tục, hành giả cảm thấy nhàm chán trong vạn hữu (tất cả hành), những cái đáng sợ và mang bản chất tiêu vong (vayato) mà bhayađāṇa (Kinh úy trí) đã phát hiện.

Thế rồi, theo tuần tự, các Thánh Đạo sẽ khởi lên, các tầng Thánh Quả có mặt. Cuối cùng hành giả đưa tâm đến giai đoạn Phảng kháng trí.

Nãy giờ là giải về bộ thứ nhất (paṭhamacatukka). Sau đây sẽ giải về các bộ tứ tiếp theo. Và vì cách thức triển khai 3 bộ tứ này không có gì khác biệt với bộ tứ đầu tiên, nên ở đây chỉ nêu ra từng câu Chánh Tạng mà lược giải thôi.

CATUKKA THỨ NHÌ

Câu nói: “Ghi nhận rõ rệt Hỷ, ta sẽ thở ra vào” có nghĩa là hành giả nhận biết Hỷ của mình qua hai khía cạnh: Cảnh và sự vô hôn (asammoha). Thế nào là nhận biết Hỷ tâm của mình qua cảnh? Ở đây, hành giả chứng nhập hai tầng thiền đầu rồi ghi nhận Hỷ trong hai thiền đó. Như vậy là nhận biết Hỷ qua cảnh. Thế nào là nhận biết Hỷ qua khía cạnh Vô hôn (tỉnh giác)? Ở đây, sau khi xuất khỏi 2 tầng thiền đầu tiên, hành giả suy quán bản chất tiêu vong, hoại diệt của Hỷ trong hai tầng thiền ấy. Chính trong giây phút tu Quán như vậy, gọi là nhận biết Hỷ bằng sự vô hôn (không mê lầm).

Trong Paṭisambhidāmagga đã nói đại ý như sau: Nhờ dựa vào hơi thở ra vào dài ngắn, tâm được chuyên nhất, bất loạn động, có hiểu biết, có chánh niệm. Hỷ được ghi nhận bằng chính chánh niệm và trí tuệ đó. Nhờ dựa vào “hơi thở lúc toàn thân đã được làm hiển lộ”, nhờ dựa vào “hơi thở lúc thân hành đã được tỉnh hóa”, tâm được chuyên nhất, bất loạn động, có hiểu biết, có chánh niệm. Hỷ được ghi nhận bằng chính trí tuệ và chánh niệm ấy. Hỷ được ghi nhận bằng sự hướng nhập (āvajjato). Từ sự hiểu biết, nhìn thấy, từ sự phản kháng, từ sự kiên định (kiên tâm - cittaṃ adhiṭṭhahato), từ sự đình trụ (cittaṃ samādahato), từ sự liễu tri bằng trí tuệ (pađđāya pajānato), từ sự tác chứng cái cần thắng tri – cần viên tri – cần đoạn trừ – cần tu tiến – cần tác chứng, Hỷ được ghi nhận (paṭisaṃviditā). Đó là quá trình của sự ghi nhận Hỷ tâm. Đối với các câu thiệu còn lại, hành giả cũng theo đó mà suy ra. Ngoại trừ câu: “Ghi nhận rõ rệt lạc tâm (sukkhapatisaṃvedī)” thì phải hiểu thêm rằng, có tới ba tầng thiền có Lạc. Còn câu Cittasaṅkhāra paṭisaṃvedī thì áp dụng trọn cả các tầng thiền.

Tâm hành là gì? Là hai uẩn Thọ uẩn và Tưởng uẩn. Còn tiếng lạc (sukha) trong Sukhapaṭisaṃvedī là chỉ cho thân lạc (kāyikasukha) và tâm lạc (cetasikasukha). Trong Paṭisambhidā đã giải như vậy.

Tỉnh hóa tâm hành (cittapassambhaya) nghĩa là làm cho tâm hành từ thô thiển trở nên vi tế. Những chi tiết còn lại của tâm hành nên y cứ vào phần thân hành mà hiểu. Lại nữa, trong câu nói về Hỷ, Đức Phật nhắm đến thọ mà nặng về Hỷ, có Hỷ làm đầu (Pītisīsena). Còn trong câu nói về Lạc thì Ngài nhắm ngay Thọ uẩn luôn. Trong câu nói về Tâm hành thì Ngài nhắm về Thọ mà có tương ưng với Tưởng, vì trong Chánh Tạng cũng đã xác nhận: Tưởng và Thọ là hai danh pháp trực thuộc tâm, được tâm tạo, chúng là tâm hành (sađđā ca vedanā ca cetasikā ete dhammā cittapaṭibaddhā cittasaṅkhārā).

Cho nên hành giả cần hiểu rằng Catukka thứ hai này chỉ về Thọ quán niệm xứ.

CATUKKA THỨ BA

Ở đây Cittapaṭisaṃdevī có nghĩa là hành giả làm hiển lộ tâm mình, ghi nhận rõ rệt tâm mình bằng bốn tầng thiền. Còn phấn hóa nội tâm (abhippamodayaṃ cittaṃ) tức là làm cho tâm được hân hoan, vui tươi, phấn chấn. Hành giả tâm niệm rằng sau khi phấn hóa nội tâm, ta sẽ thở ra vào. Mà phải phấn hóa bằng pháp gì? Bằng Định (samādhi) và Quán (vipassanā).

Thế nào là phấn hóa nội tâm bằng Định? Ở đây sau khi nhập hai tầng thiền đầu, tâm hành giả lập tức vui tươi, phấn chấn bằng chính Hỷ trong hai tầng thiền đó. Như vậy, gọi là phấn hóa nội tâm bằng Định. Còn phấn hóa tâm bằng Quán là như thế nào?

Ở đây, sau khi xuất khỏi định của hai tầng thiền kia, hành giả quán sát tính chất biến hoại, suy vong của thiền Hỷ ấy, nhờ quán xét như vậy, tâm cũng được hân hoan, đó là phấn hóa nội tâm bằng Quán vậy. Khi hành đúng như thế, tức là hành giả đã làm đúng câu Chánh Tạng: “Sau khi phấn hóa nội tâm, ta sẽ thở ra vào”.

Câu nói: “Kiên định nội tâm rồi mới thở ra vào” có nghĩa là trong khi nhập các tầng thiền, tâm của hành giả được kiên lập, kiên trụ (samaṃ ādahanto, samaṃ ṭhapento) sau khi xuất thiền rồi quán sát các tâm thiền qua khía cạnh biến hoại, suy vong, tâm hành giả cũng được kiên định, kiên trụ. Như vậy, tức là hành giả đã làm đúng câu Chánh Tạng: “Sau khi kiên định nội tâm (samādahaṃ cittaṃ) ta sẽ thở ra vào”.

Câu nói “Giải phóng nội tâm (vimoccayaṃ cittaṃ) rồi mới thở ra vào” có nghĩa là hành giả làm cho tâm vượt khỏi 5 pháp cái bằng Sơ thiền, vượt khỏi Tầm tứ đại bằng Nhị thiền, vượt khỏi Hỷ bằng Tam thiền, vượt khỏi Khổ lạc bằng Tứ thiền. Hoặc là sau khi xuất khỏi các tầng thiền, hành giả quán xét bản chất biến hoại, suy vong của chúng để làm cho tâm vượt khỏi các vọng tưởng mê lầm, vượt khỏi thường tưởng (niccasađđā) bằng Vô thường tùy quán, vượt khỏi Lạc tưởng bằng Khổ tùy quán, vượt khỏi Ngã tưởng bằng Vô ngã tùy quán, vượt khỏi Hỷ ái bằng Yếm ố tùy quán, vượt khỏi tham dục bằng ly tham tùy quán, vượt khỏi ái tập bằng Diệt tùy quán, vượt khỏi sự trước thủ bằng xả ly tùy quán. Trong khi đang tu Quán như vậy, hơi thở được lưu thông. Làm đúng theo đó, hành giả đã thực hiện chín chắn câu Chánh Tạng: “Sau khi giải phóng nội tâm, ta sẽ thở ra vào”.

Kết luận lại, catukka thứ ba này là nhắm về Tâm quán niệm xứ.

CATUKKA THỨ TƯ

Trước hết giải về tiếng Aniccānupassī. Từ Aniccā có nghĩa là vô thường. Cái gì là vô thường? 5 uẩn là cái vô thường. Tại sao thế? Vì bản chất của chúng là sau khi sanh lên lại diệt mất, bị đổi khác, không thể tồn tại mãi được, và cái bản chất vô thường đó cứ diễn ra trong từng sát na một, còn vô thường tùy quán (aniccānupassanā) là gì? Đó là trí tuệ truy quán cái vô thường của ngũ uẩn qua vô thường tánh của chúng (aniccatā). Vậy người tùy quán vô thường (aniccānupassī) là người có trí tuệ ấy. Khi đã là người có trí tuệ truy quán vô thường tánh của ngũ uẩn như thế rồi điều hành hơi thở ra vào, hành giả đã thực hiện đúng theo câu Chánh Tạng: “Là người tùy quán vô thường, ta sẽ thở ra vào”.

Tiếp theo là giải về tiếng Virāgānupassanā. Virāga là ly tham. Có hai trường hợp ly tham: Khayavirāga (sự ly tham do thấy được bản chất hoại diệt của các hành trong từng sát na) và Accantavirāga (sự ly tham một cách tuyệt đối, ở đây chỉ cho Níp Bàn). Virāgānupassanā là gì? Chính là Tuệ quán và Thánh Đạo mà diễn tiến qua hai phương diện ly tham vừa kể. Với trí tuệ về ly tham như thế, hành giả được gọi là Virāgānupassī (người tùy quán về ly tham) và khi thở ra vào bằng trí tuệ ấy có nghĩa là hành giả đã thực hành đúng câu Chánh Tạng: “Sau khi là người tùy quán ly tham, ta sẽ thở ra vào”.

Trong câu Nirodhānupassī cũng cứ vậy mà hiểu, chẳng có gì khác biệt với Virāgānupassī.

Riêng về câu: “Sau khi tùy quán xả ly ta sẽ thở ra vào” thì phải được hiểu rộng rãi như sau:

Có hai trường hợp xả ly: Pariccāgapaṭinissagga (Thải xả ly) và pakkhandapaṭinissagga (Khởi tiến xả ly). Chỉ có xả ly theo hai phương diện này mới là xả ly tùy quán, và hai loại xả ly này cũng là tên gọi của trí tuệ quán (vipassanā) và Thánh Đạo. Sở dĩ trí tuệ quán được gọi là Thải xả ly và Khởi tiến xả ly vì nó (có công năng) loại trừ48 phiền não và các uẩn tập khí (khandhābhisaṅkhāra) một cách giai đoạn (tadaṅjavasena) đồng thời cũng hướng đến Níp Bàn, cái đối lập49 với phiền não và các uẩn tập khí một cách sơ bộ, nhờ thấy được bề trái của các hành.

Còn Thánh Đạo cũng được gọi là Thải xả ly và Khởi tiến xả ly vì Thánh Đạo (có công năng) loại trừ phiền não và các uẩn tập khí một cách tận tuyệt (samucchedavasena) và hướng tới Níp Bàn bằng cách lấy Níp Bàn làm cảnh.

Tuệ quán và Thánh Đạo50 được gọi là tùy quán (anupassanā) vì chúng có tính chất tùy thuộc vào các thiền tuệ đầu, có cái thấy dựa theo thiền tuệ đầu. Khi thở ra vào bằng hai paṭinissagga trên, tức là hành giả đã làm đúng câu Chánh Tạng: “Vị ấy tâm niệm rằng: Khi đã là người tùy quán xả ly ta sẽ thở ra vào”.

Catukka thứ tư này đặc chuyên về Thiền quán. Còn 3 catukka trước vừa là Chỉ vừa là Quán.

Ta nên biết thiền hơi thở có 4 catukka và được chia thành 16 câu niệm như vậy. Nhờ tu tập thành mãn tất cả các câu thiệu này, hành giả sẽ thâu gặt được lợi ích lớn, quả báu lớn. Chính Bậc Đạo Sư cũng đã tuyên bố như thế. Một trong những quả báo đặc biệt của Thiền hơi thở là đình chỉ được Tầm, sự hướng ngoại, phóng tán. Bởi Đức Thế Tôn đã dạy:

Ānāpānassati bhāvetabbā vitakkupacchedayā (cần phải tu tập về hơi thở để chặn đứng Tầm). Và Ngài còn dạy thêm:

- Này các Tỳ kheo! Khi thiền hơi thở đã được tu tiến, tập hành, phát triển rồi, thì sẽ làm cho bốn Niệm xứ được thành mãn, Niệm xứ được thành mãn sẽ làm cho 7 giác chi được thành mãn, 7 giác chi được thành mãn sẽ làm cho Minh và Giải thoát được thành mãn.

Sự tu tập Thiền hơi thở còn có lợi ích khác nữa, là giúp hành giả biết được chính xác hơi thở sau cùng. Như Bậc Đạo Sư đã dạy: Này Rāhula! Khi Thiền hơi thở đã được tu tập, đã được phát triển thì những hơi thở sau cùng (carimaka – assāsapassāsa) nào được biết rõ, chúng sẽ diệt mất, nếu không được biết rõ thì không diệt mất”. Có ba trường hợp tận cùng của hơi thở. Hơi thở tận cùng do Cõi, tận cùng do Thiềân, tận cùng do mệnh chung. Tận cùng do cõi tức là hơi thở ra vào chỉ có ở cõi Dục giới thôi, khi sanh lên cõi Sắc giới và Vô sắc giới thì hơi thở không còn nữa. Tận cùng do thiềân tức là ở 3 tầng thiền đầu thì còn hơi thở, khi đạt đến Tứ thiền thì hơi thở chấm dứt. Tận cùng do mệnh chung tức là những hơi thở nào sanh lên trong sát na tâm thứ 16 kể từ tâm tử tính ngược trở lại thì chúng sẽ diệt ngay khi tâm tử khởi lên. Các Ngài gọi các hơi thở trong những trường hợp vừa kể là hơi thở tận cùng.

Được nghe rằng đối với vị Tỳ kheo tu tập thiền hơi thở nhờ từ lâu đã có một quá trình nắm bắt thuần thục trong cảnh hơi thở nên vị ấy có thể biết một cách rõ ràng những hơi thở sau cùng của kiếp sống mình, thay vì người khác không thể biết. Tức là những hơi thở khởi lên trong sát na thứ 16 trước tâm tử, chúng có mặt thế nào, biến đổi thế nào và tiêu mất như thế nào, vị ấy đều ghi nhận tỉ mỉ theo từng giai đoạn.

Chính vì thế, nếu dùng đề mục hơi thở để tu tập và chứng ngộ Tứ quả thì vị hành giả đôi khi có thể biết trước được ngày, giờ Níp Bàn của mình51, như trường hợp của nhiều vị trưởng lão mà ở đây chỉ kể lại một trường hợp thôi.

Tương truyền rằng: Có một vị Trưởng lão nọ, trong ngày Bố tát, sau khi tụng giới bổn xong, ngồi nhìn ánh trăng mà xét thọ mạng của mình. Rồi nói với Chư Tăng chung quanh:

- Các Ngài đã gặp mấy cách viên tịch rồi?

Trong Chư Tăng có vị bảo rằng mình từng thấy người khác viên tịch bằng cách ngồi, có vị nói mình đã từng gặp người khác bằng cách nằm, cách đứng. Nghe vậy, vị Trưởng lão ấy bèn nói:

- Thế thì hôm nay tôi sẽ Níp Bàn trong tư thế đang đi cho các Ngài xem.

Nói xong, Ngài bước lên con đường kinh hành rồi nói rằng:

Tôi sẽ từ điểm đầu của con đường này đi đến đâu kia của con đường, và khi vừa xoay bước quay lại thì sẽ lập tức Níp Bàn”.

Quả thật vậy, sau khi đi hết đường kinh hành, chân vừa dỡ lên để quay lại thì Ngài liền viên tịch ngay.

Thiền hơi thở có những quả báu lớn, lợi ích lớn như thế, nên các bậc hiền trí cần phải tu tiến, phát triển, huân tập thiền này cho thành mãn.

Chấm dứt phần giải về thiền hơi thở.

 


← 11 12 13 →

Nguồn: Ngõ Vào Nội Tại
(Tỳ khưu Huyển Đạt lược dịch)
Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.

© www.tudieu.de