www.tudieu.de

Ngõ Vào Nội Tại - Ghi chú

← 10 Trang Đầu 12 →


KĀYAGATĀSATI



Đây là một pháp môn chỉ có trong Phật Giáo, các giáo phái ngoại đạo không thể đưa ra đường lối tu tập này được, bởi nó nằm ngoài giới vức của họ.

Đức Thế Tôn đã thuyết rằng:
"-Này chư Tỳ kheo! Có một pháp mà sau khi tu tập, trau dồi, huân tập sẽ dẫn tới sự đại động tâm, sẽ đưa tới lợi ích lớn, sẽ hướng tới sự an ổn khổ ách, dẫn tới sự thành tựu chánh niệm tỉnh giác, dẫn tới sự thành tựu tri kiến, đưa đến đời sống hiện tại lạc trú, là tác nhân dẫn tới Minh và Quả giải thoát. (Một) pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Này các Tỳ kheo! Vị Tỳ kheo nào thưởng thức được pháp thân hành niệm, tức là đã thưởng thức được pháp Bất Tử. Vị nào chưa thưởng thức được thân hành niệm thì coi như chưa thưởng thức được pháp Bất Tử. Này các Tỳ kheo! Vị Tỳ kheo nào bị tổn giảm trong thân hành niệm thì coi như đã làm mất mát pháp Bất Tử. Vị nào hướng về thân hành niệm thì coi như đã hướng về Níp Bàn Bất Tử".

Sau khi dùng nhiều phương cách ca ngợi thân hành niệm, Đức Thế Tôn đã kể ra các chuyên mục (pabba) trong thân hành niệm:
1- Anāpānapabba (chuyên mục hơi thở).
2- Iriyāpaṭhapabba (chuyên mục oai nghi).
3- Catusampajađđapabba (chuyên mục tứ tỉnh giác).
4- Paṭikūḷamanasikārapabba (chuyên mục tác ý nhờm gớm).
5- Dhātumanasikārapabba (chuyên mục tác ý các địa chất).
6 - 14-9 Sivaṭṭhikapabba (chuyên mục hoại thi).

Muốn rõ thêm, hãy xem trong kinh Thân Hành niệm. Ở đây trong 14 chuyên mục này, Iriyāpathapabba – ca – tusampajađđapabba và Dhātumanasikārapabba được kể vào án
xứ Thiền Quán. 9 Sivaṭṭhikapabba được kể vào nguy hại Thiền Quán (ādīnavānupassanā) của Thiền Quán, còn nếu kể vào Thiền Chỉ thì được nói rõ ở phần Asubhaniddesa. Ānāpānapabba và Paṭikūḷamanasikārapabba được xếp vào Thiền Chỉ. Tuy nhiên, riêng về Ānāpānapabba thì là đề mục của cả Chỉ lẫn Quán đều được.

Mà ở đây, Thân Hành niệm nhắm vào Paṭikūḷamanasikārapabba hay còn gọi là Dvattiṃsākārakammaṭṭhāna (án xứ về 32 thể trược). Về điều này, Đức Phật dạy:

- Này các Tỳ kheo! Vị Tỳ kheo quán xét tấm thân này từ
gót chân lên tới ngọn tóc, được da bao phủ và chứa đầy những vật
bất tịnh như: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận,
tim, gan…"

Trong 32 thể trược đó, được chia thành 6 nhóm. Bốn nhóm 5 và hai nhóm 6.
  1. Nhóm thứ nhất (tacapađcaka) Kesā (tóc), lomā (lông), nakhā (móng), dantā (răng), taco (da).
  2. Nhóm thứ hai (vakkapađcaka) Maṃsaṃ (thịt), nhāru (gân), aṭṭhi (xương), aṭṭhimiđjaṃ (tủy), vakkaṃ (thận, có nơi dịch là lá lách).
  3. Nhóm thứ ba (papphāsapađcaka) Hadayaṃ (tim), yakanaṃ (gan), kilonakaṃ (niêm mạc), pihakaṃ (bao tử, có nơi dịch là thận), papphāsaṃ (lá phổi).
  4. Nhóm thứ tư (matthaluṅgapađcaka) Antaṃ (ruột non), antaguṇaṃ (ruột già), udariyaṃ (vật thực mới, thức ăn chưa tiêu hóa), karīsaṃ (vật thực cũ, phẩn) matthaluṅgaṃ (óc, não).
  5. Nhóm thứ năm (medachakka) Pittaṃ (mật), semhaṃ (đàm), pubbo (mủ), lohitaṃ (máu), sedo (mồ hôi), medo (mỡ, có chỗ dịch là cáu ghét).
  6. Nhóm thứ sáu (muttachakka) Assu (nước mắt), vasā (chất nhờn, có nơi dịch là màng nhầy), kheḷo (nước miếng), siṅghāṇikā (nước mũi), lasikā (nước dãi, nhớt), muttaṃ (nước tiểu).

Xác thân này quả là chỗ tập trung của nhiều vật đáng gớm, bản chất của nó thật đáng tởm, bởi chỗ nào cũng là dơ dáy, bẩn thỉu cả, đồng thời xác thân này cũng là một ổ tật bệnh, những biến chứng của tứ đại bất hòa, không ai có thể tìm được trong thân xác này cái gì khả dĩ gọi là sạch sẽ, thơm tho dù đó chỉ là một nguyên tử cũng không có, mà chỉ gặp toàn những uế vật bất tịnh, hôi hám thôi.

Người thiện nam tử muốn tu tập án xứ Thân Hành niệm này nên tìm bạn tốt để thụ học đề mục mà mình muốn thực hành. Riêng về ông thầy phải dạy cho học trò của mình nắm vững 7 điều uggahakosalla và 10 điều manasikārakosalla Bảy điều uggahakosalla là:
  1. Nắm vững về câu niệm (vacasā).
  2. Về cách chú niệm (manasā).
  3. Về màu sắc (vaṇṇato) của uế vật.
  4. Về hình dạng (saṇṭhānato) của uế vật.
  5. Về phương hướng của uế vật (disatto).
  6. Về vị trí của uế vật (okāsato).
  7. Về khoảng cách của các uế vật (paricchedato).

Đối với hành giả là hạng trì Tam Tạng (tepiṭaka) thì khi
bắt đầu tác ý đến đề mục, nên đọc bằng câu niệm trước đã. Trong
khi đang đọc câu niệm như vậy, án xứ sẽ hiện khởi.

Như trường hợp hai vị Đại Đức nọ, đến học thiền với Ngài Trưởng Lão chùa Malaya. Tương truyền rằng Trưởng Lão ấy đã cho hai vị kia đọc câu niệm án xứ trong cả 4 tháng trời, mà hai vị ấy đều là những người thông suốt mấy bộ kinh (Nikāya). Chỉ vì họ có bản tánh cẩu thả nên phải trải qua 4 tháng mới chứng được Sơ Quả.

Do đó, khi dạy án xứ này cho thiền sinh, vị thầy nên bắt họ đọc làu làu câu niệm, mà phải đọc vừa xuôi vừa ngược cho thật thông như đọc rằng: kesā (tóc), lomā (lông), nakhā (móng), dantā (răng), taco (da), rồi niệm ngược trở lại: Taco (da), dantā (răng), nakhā (móng), lomā (lông), kesā (tóc). Trước hết phải đọc niệm phần tacapađcaka. Rồi tiếp theo mới đọc tới vakkapađcaka: Maṃsaṃ (thịt), nhāru (gân), aṭṭhi (xương), aṭṭhimiđjaṃ (tủy), vakkaṃ (lá lách). Rồi niệm ngược trở lại: Vakkaṃ, aṭṭhimiđjaṃ, aṭṭhi, nhāru, maṃsaṃ, taco, dantā, nakhā, lomā, kesā. Từ đó lại đọc tiếp câu niệm phần papphāsapađcaka: Hadayaṃ, yakanaṃ, kilonakaṃ, pihakaṃ, papphāsaṃ.

Xong rồi niệm ngược trở lại từ đầu: Papphāsaṃ, pihakaṃ, kilonakaṃ, yakanaṃ, hadayaṃ, vakkaṃ, aṭṭhimiđjaṃ, aṭṭhi, nhāru, maṃsaṃ, taco, dantā, nakhā, lomā, kesā.

Xong rồi niệm tiếp qua Matthaluṅgapađcaka: Antaṃ, antaguṇaṃ, udariyaṃ, karīsaṃ, matthaluṅgaṃ. Và niệm ngược lại: Matthaluṅgaṃ, karīsaṃ, udariyaṃ, antaguṇaṃ, antaṃ, papphāsaṃ, pihakaṃ, kilonakaṃ, yakanaṃ, hadayaṃ, vakkaṃ, aṭṭhimiđjaṃ, aṭṭhi, nhāru, maṃsaṃ, taco, dantā, nakhā, lomā, kesā.

Tiếp theo lại niệm qua Medacchakka: Pittaṃ, semhaṃ, pubbo, lohitaṃ, sedo, medo. Rồi niệm ngược lại: Medo, sedo, lohitaṃ, pubbo, semhaṃ, pittaṃ, matthaluṅgaṃ, karīsaṃ, udariyaṃ, antaguṇaṃ, antaṃ, papphāsaṃ, pihakaṃ, kilonakaṃ, yakanaṃ, hadayaṃ, vakkaṃ, aṭṭhimiđjaṃ, aṭṭhi, nhāru, maṃsaṃ, taco, dantā, nakhā, lomā, kesā.

Cuối cùng là niệm tới Muttacchaka: Assu, vasā, kheḷo, siṅghāṇikā, lasikā, muttaṃ.Và niệm ngược về: Muttaṃ, lasikā, siṅghāṇikā, kheḷo, vasā, assu, medo, sedo, lohitaṃ, pubbo, semhaṃ, pittaṃ, matthaluṅgaṃ, karīsaṃ, udariyaṃ, antaguṇaṃ, antaṃ, papphāsaṃ, pihakaṃ, kilonakaṃ, yakanaṃ, hadayaṃ, vakkaṃ, aṭṭhimiđjaṃ, aṭṭhi, nhāru, maṃsaṃ, taco, dantā, nakhā, lomā, kesā.

Hành giả nên niệm bằng lời như vậy hàng trăm, hàng ngàn lần. Bởi vì cái thứ tự của đề mục sẽ được làu thông nhờ niệm như thế, đồng thời tâm hành giả nhờ vậy mà cũng không bị khuếch tán, phóng ngoại, và nhờ niệm như thế, từng ức vật sẽ hiện ra một cách thứ lớp như các ngón tay trên bàn tay hay như một hàng cột vậy.

Cách niệm bằng miệng như thế nào thì cách niệm thầm trong tâm cũng theo hệ thống đó. Nhờ niệm bằng miệng mới có thể niệm bằng tâm, nhờ niệm trong tâm mới dẫn đến sự thể nhập biệt tướng (của các thể trược).

Bây giờ tác giả sẽ giải rõ về 7 điều uggahakosalla. Ghi nhận về màu sắc (vaṇṇato) tức là tác ý tới màu sắc của từng món thể trược như tóc màu đen, máu màu đỏ… Ghi nhận về hình dạng (saṇṭhānato) tức là tác ý tới hình dạng của mỗi thể trược: cái này có hình dạng thế này, cái kia có hình dạng thế nọ. Ghi nhận phương hướng (disato) tức là tác ý rằng: cái này nằm về phía trên hay phía dưới. Ghi nhận về vị trí (okāsato) tức là chú ý rằng: "cái này nằm ở đây, cái này nằm ở đây". Ghi nhận về khoảng cách (chi tiết-paricchedato) tức là chú ý về hai loại pariccheda:

Sabhāgapariccheda và Visabhāgapariccheda. Chú ý về Sabhāgapariccheda là ghi nhận rằng: Cái này về phía trên thì cách khoảng với cái này, cách khoảng phía dưới với cái này, cách khoảng chiều bên cạnh (tīriyaṃ) với cái này. Chú ý về Visabhāgapariccheda là ghi nhận rằng: Tóc không phải là lông, lông không phải là tóc, quán xét sự khác biệt giữa các uế vật như vậy được gọi là ghi nhận về Visabhāgapariccheda.

Khi dạy án xứ qua 7 điều uggahakosalla này: Vị Thiền Sư nên hiểu rằng đề mục Thân Hành niệm ở đây là chỉ về Paṭikūla tức là án xứ nhờm gớm. Có những trường hợp thuyết Thân Hành niệm , nhưng Đức Thế Tôn lại nhắm đến sự phân tích các đại chất như trong các bài kinh Mahāhatthipadopamasutta, mahārāhulovādasutta và Dhātuvibhaṅgasutta. Còn riêng về bài kinh Đại Niệm Xứ thì Ngài giảng giải Thân Hành niệm qua khía cạnh nhờm gớm. Trong kinh Thân Hành niệm, Ngài phân tích bốn tầng Thiền chứng đạt từ màu sắc của các món thể trược. Và trong bài kinh Thân Hành niệm này, Ngài đưa khía cạnh đại chất của các thể trược vào án xứ Thiền Quán, đưa khía cạnh nhờm gớm vào án xứ Thiền Chỉ. Ở đây đề mục Thân Hành niệm nhắm vào khía cạnh "đáng gớm" nên coi như thuộc Thiền Chỉ. Thiền Sư cần phải dạy học trò mình 7 điều uggahakosalla sau khi nắm rõ vấn đề như vậy.

Bây giờ giải về 10 điều Manasikārakosalla. Vị Thiền Sư nên dạy học trò mình 10 điều ấy như sau:

1- Tác ý án xứ một cách trình tự (anupubbato)

Nghĩa là trước hết phải thao tác án xứ bằng cách niệm ra lời, niệm một cách thứ tự chứ không bắt ngang giữa chừng. Bởi vì, khi hành giả niệm bắt ngang như vậy, tâm sẽ đâm ra mệt mỏi, do không tìm được sự hứng thú đồng thời cũng không thể chứng đạt thiền định được gì cả, giống như một người đàn ông vụng về (không biết cách đi thang) muốn leo lên nửa chừng một cây thang có 32 nấc. Dĩ nhiên vô cùng mệt mỏi, tốn sức mà không thể nào được toại ý.

2- Kềm hãm tốc độ niệm (nātisīghato)

Tức là sau khi đã thao tác án xứ bằng câu niệm tuần tự như vậy, hành giả phải biết hạn chế độ nhanh của tâm ghi nhận, vì khi hành giả chú niệm án xứ quá mau, án xứ sẽ bị rơi vào tình trạng hụt hẫng, lơi lỏng và không dẫn tới kết quả chứng đạt. Cũng giống như một kẻ không rành đường đi trên một đoạn đường dài 3 do tuần, cứ hối hả đi tới rồi trở lui cả 7 lần (vì không biết đường) thay vì chỉ cần đi thong thả, rồi tìm người để hỏi, anh ta lại cứ 10 bước thoăn thoắt như vậy, nên tới lúc xác định được ngõ cần phải đi thì đã lỡ bước rồi. Cho nên, hành giả cần phải biết chú niệm án xứ một cách thong thả (nātisīghato manasikātabba)

3- Không chú niệm trì hoãn (hưỡn) (nātisanikato)

Hành giả không niệm quá nhanh đã đành rồi, nhưng đồng thời cũng không nên chú niệm án xứ một cách quá chậm. Bởi vì khi chú niệm quá chậm như vậy, án xứ sẽ không được chăm chút đúng mức và sẽ không đưa tới kết quả chứng đạt thiền định, như một người muốn đi hết đoạn đường 3 do tuần trong một ngày, nhưng vì dọc đường lại nhẩn nha, thả rêu theo cây cỏ, núi non, nên phải mấy hôm sau mới đi hết đoạn đường đã định.

4- Khắc trừ sự loạn động (vikkhepapaṭibāhanato)

Tức là hành giả phải khắc phục nội tâm, không cho tán động, hướng ngoại. Bởi vì nếu không như vậy, án xứ sẽ bị thất tán. Như khi đi trên một con đường thật hẹp, chỉ vừa cho một người đi, bên mép vực thẳm sâu hút, nếu người ta lơ đễnh một tí thôi thì sẽ rơi xuống đấy.

5- Vượt qua ý niệm giả lập thông thường (paṇṇattisamatikkamanato)

Tức là hành giả không còn "đánh gia"ù các uế vật theo quan niệm phổ thông, như đây là tóc, là lông nữa, mà lại tác ý vào khía cạnh đáng gớm của chúng. Sau khi đã thực hiện xong quá trình thao tác án xứ bằng miệng, hành giả phải lập tức dẫn tâm khắn chặt vào cái bản chất đáng tởm của chúng, nhờ vậy án xứ sẽ khởi hiện ngay, cũng như trong thời kỳ hạn hán, người ta treo các tấm bảng làm hiệu tại những giếng nước tìm được trong rừng, để người nào đi ngang đó muốn tìm nước dùng sẽ theo bảng hiệu đó mà tới giếng nước. Sau khi đã tới được giếng nước thì người ta không cần gì tới bảng hiệu ấy nữa, mà chỉ việc lấy nước để uống và tắm giặt thôi.

6- Phải biết niệm nhảy (anupubbamuđcarato)

Niệm nhảy là niệm không theo hệ thống thứ tự. Nghĩa là trong khi đang quán xét các thể trược, nếu thấy món nào không rõ rệt thì hành giả bỏ qua, rồi niệm tới món thể trược khác. Buổi dầu mới tu tập đề mục Thân Hành niệm này, tâm trí hành giả cứ mãi chạy theo phần sau cùng của câu niệm, như vừa niệm Kesā thì đã nghĩ tới Muttaṃ hay vừa niệm tới Muttaṃ thì đã nghĩ tới Kesā.

Cho nên, trong tình trạng đó, các thể trược có cái hiện rõ, có cái lại không hiện rõ. Vì vậy đối với những món thể trược nào hiện rõ thì hành giả nên chú niệm vào đấy. Thậm chí, trong hai món thể trược hiện rõ, cái nào rõ rệt nhất thì chú niệm vào đó nhiều lần cũng đạt đến Kiên cố định.

Để hiểu rõ điều này, ta có thể mượn tới ví dụ sau đây:

Người thợ săn nọ muốn bắt con khỉ trong một khu rừng có 32 cây thốt nốt. Trước hết, ông ta bắn tên vào cây thốt nốt mà con khỉ đang đứng, rồi la lớn lên. Con khỉ sẽ lần lượt chuyền từ cây này sang cây khác để trốn và người thợ săn cứ tiếp tục bắn đuổi theo. Cuộc trốn chạy và săn đuổi cứ thế diễn ra. Cuối cùng rồi, sau khi đã chuyền tới lui khắp các cây thốt nốt, con khỉ lọt vào giữa đọt thốt nốt nào đó, rồi nắm chặt lấy bẹ lá non ở đấy mà chịu trận.

Cuộc săn đuổi coi như kết thúc. Hình ảnh này đã minh họa cho vấn đề vừa nói trên, 32 cây thốt nốt tượng trưng cho 32 món thể trược trong thân. Con khỉ tượng trưng cho cái tâm, người thợ săn tượng trưng cho vị hành giả, việc nhảy chuyền của con khỉ trong khu rừng thốt nốt đó tượng trưng cho việc bám sát 32 thể trược của hành giả. Diễn biến của cuộc săn đuổi tượng trưng cho quá trình thao tác án xứ và giai đoạn nắm bắt được án xứ của hành giả. Rồi hình ảnh con khỉ nhảy chuyền tới lui trong những chỗ mà người thợ săn hò hét cũng giống như việc hành giả bỏ qua những món thể trược không hiện rõ, tác ý tới những thể trược hiện rõ, việc con khỉ bị rớt vào đọt thốt nốt rồi bám chặt bẹ lá non ở đó, giống như việc hành giả nắm bắt lấy món thể trược rõ nhất trong hai món hiện rõ, sau khi đã chú niệm vào đó nhiều lượt, Kiên cố định sẽ khởi lên.

Hay có thể dùng một thí dụ khác, có vị Tỳ kheo nọ trì hạnh khất thực, sống trong một ngôi làng có 32 căn nhà.

Ngày kia, khi vừa đến căn nhà đầu tiên, vị ấy đã nhận được hai phần cơm nên liền bỏ một phần và chỉ dùng một phần mà thôi. Hôm sau, nhận được ba phần cơm, vị ấy bỏ hai phần dư. Tới bữa thứ ba, vừa tới căn nhà đầu tiên thì vừa đầy bát. Vị ấy quay về phòng ăn để thọ thực (và khỏi phải bỏ đi phần dư nào, vì một bát vừa đủ một suất ăn). Nương theo ví dụ trên đây, 32 ngôi nhà tượng trưng cho 32 thể trược, vị Tỳ kheo đó tượng trưng cho hành giả, việc trú ngụ tại ngôi làng có 32 căn nhà đó tượng trưng cho sự an trú vào 32 thể trược. Việc dùng một phần ăn và bỏ đi các phần dư tượng trưng cho việc hành giả chọn lấy một món thể trược rõ nhất trong hai loại thể trược để chú niệm. Việc thọ thực trọn một suất ăn tượng trưng cho việc hành giả sau khi đã nắm được một thể trược thật rõ rệt rồi thì chú niệm liên tục cho Kiên cố định khởi lên.

7- Tiến đạt Kiên cố định (appanākoṭṭhāsato)

Nghĩa là vào giai đoạn này, hành giả đạt được trong một thể trược nào đó mà mình đã nắm bắt được.

8-10- Mỗi chi là một bài kinh trong ba bài kinh sau đây: Adhicittasutta, Sītibhāvasutta và Bojjhaṅgakosallasutta.

Như vậy chi 8 có 3 khía cạnh (vì Kinh Adhicitta đề cập 3 khía cạnh thiền định), chi 9 có 6 khía cạnh, và chi 10 có 2 khía cạnh. Trước hết ta nên nghiên cứu bài kinh Adhicittasutta, trong đó Đức Thế Tôn dạy như sau:

8-Adhicittasutta

“Này các Tỳ kheo! Đối với vị Tỳ kheo tu tập tăng thượng Tâm, có ba pháp ấn này, cần phải tùy thời tác ý. (Thế nào là 3?): Định ấn tướng (Samādhinimitta) cần phải tùy thời tác ý, Cần ấn tướng (paggahanimitta43) cần phải tùy thời tác ý, Xả ấn tướng (upekkhānimitta) cần phải tùy thời tác ý.

Này các Tỳ kheo! Nếu vị Tỳ kheo tu tập tăng thượng Tâm, chỉ thuần chuyên tập trung sự tác ý vào Định ấn tướng, thì cuối cùng tâm (vị ấy) sẽ bị thụ động, đớn nhác (kosajja). Nếu vị Tỳ kheo tu tập tăng thượng Tâm, chỉ thuần chuyên tập trung sự tác ý vào Cần ấn tướng thì cuối cùng tâm sẽ bị phóng tán (uddhacca).

Nếu vị Tỳ kheo tu tập tăng thượng Tâm, chỉ thuần chuyên tập trung sự tác ý vào Xả ấn tướng thì cuối cùng tâm (vị ấy) có thể không an định một cách đúng mức (sammā samādhiyati) để đoạn tận lậu hoặc. Khi nào, này các Tỳ kheo: Vị Tỳ kheo tu tập tăng thượng Tâm biết tùy thời tác ý 3 pháp ấn đó thì nhờ vậy nội tâm vị ấy sẽ trở nên nhu thuần, sẵn sàng, trong sáng, không khuếch tán (na ca pabhaṅgu) và có thể an định một cách đúng mức để đoạn tận lậu hoặc. Này các Tỳ kheo! Giống như người thợ bạc sau khi bày lò (hay người học trò người thợ bạc) đốt lửa, lấy nhíp gắp vàng đưa vào lò để nấu chảy… Anh ta phải thực hiện đúng lúc tất cả những công việc đó, nếu không thì coi như hỏng hết. Sau khi đã tuần tự làm xong các việc đó, người thợ bạc hay học trò anh ta mới tiến hành tới chuyện thực hiện những món trang sắc như vòng xuyến, dây chuyền… Điều đó như thế nào thì ở đây vị Tỳ kheo cũng phải tùy thời tác ý đến 3 pháp ấn đó để tuần tự tiến đạt thượng pháp, đoạn tận lậu hoặc” (Đoạn kinh này Yên Tử lược dịch).

9- Sītibhāvasutta

Kế đến là bài kinh Sītibhāvasutta. Trong đó, Đức Phật dạy như sau:

“Này các Tỳ kheo! Vị Tỳ kheo bản lãnh nào thành tựu 6 pháp này, thì có thể chứng đạt lương tánh tối thượng (anuttaraṃ- sītibhāva). Thế nào là 6? Ở đây này các Tỳ kheo! Vị Tỳ kheo ức chế tâm (niggaṇhāti) trong lúc cần ức chế, năng động hóa nội tâm (paggaṇhāti) trong lúc cần năng động hóa. Phấn hóa nội tâm (sampahaṃseti) trong lúc cần phấn hóa, trú xả (ajjhupekkhati) trong lúc cần trú xả, là người (có nội tâm) hướng thượng (paṇītādhimuttika) và biết tìm vui trong cứu cánh Níp Bàn (nibbānābhirato). Này các Tỳ kheo! Thành tựu 6 pháp này, vị Tỳ kheo bản lãnh (bhabba) có thể chứng đạt lương tánh tối thượng”.

10- Bojjhaṅgakosallasutta

Cuối cùng là bài kinh Bojjhaṅgakosallasutta (trong Saṃyutta. Mahāvāra 19/156).

- “Này các Tỳ kheo! Khi nào tâm bị rơi vào tình trạng thụ động (līna) mà lại tu tập Tỉnh giác chi thì đó là phi thời. Khi nào tâm bị thụ động mà lại tu tập xả giác chi thì cũng là phi thời. Khi nào tâm bị xung động, phóng tán (uddhata) mà lại tu tập Trạch pháp giác chi, Hỷ giác chi, Cần giác chi thì là phi thời (không phải lúc, không đúng lúc). Trong lúc tâm tư thụ động thì tu tập Trạch pháp giác chi, Hỷ giác chi, Cần giác chi là hợp thời, đúng lúc.

Trong lúc tâm bị xung động, khuếch tán thì tu tập Tỉnh giác chi, Xả giác chi là hợp thời, đúng lúc. Còn Niệm giác chi thì luôn cần thiết trong mọi trường hợp” (Lời Yên Tử lược dịch).

Sau khi học kỹ lưỡng 7 điều uggahakosalla và khéo ôn tập 10 điều manasikārakosalla, hành giả cần phải thọ trì từ thầy mình 2 điều kosalla nữa:

1- Nếu hành giả và vị thầy dạy thiền có thể ở chung với nhau, thì vị thầy không phải truyền thụ cho học trò mình tất cả những bài học lý thuyết một cách chi tiết, rộng rãi như vừa giải, mà chỉ cần dựa vào từng bước tiến bộ của học trò để hướng dẫn thêm thôi. Còn nếu như hành giả muốn đi đến nơi khác để tu thiền (tức là thầy trò không có điều kiện gần gũi nhau) thì vị thầy cần phải dạy cho học trò mình thật tỉ mỉ mặt lý thuyết theo như đã trình bày. Vị hành giả phải để cho thầy dạy trắc nghiệm kỹ lưỡng, rồi tránh trú xứ bất tiện cho việc tu thiền, như đã nói rõ ở phần Paṭhavīkasiṇaniddesa, để tìm tới trú ngụ ở một chỗ thích hợp và sau khi giải quyết xong các bận rộn mới bắt đầu tu tập án xứ nhờm gớm.

2- Trước hết, hành giả nhổ một hai sợi tóc để lên bàn tay rồi ghi nhận màu sắc của nó, nên chú ý vào chân tóc bị đứt. Hoặc cũng có thể nhìn sợi tóc bị rớt trong nước hay trong vật thực cũng được. Nếu tóc còn đen thì tác ý đen, nếu tóc đã bạc thì tác ý là trắng, nếu tóc trong tình trạng hoa râm thì nên ghi nhận vào màu nào nổi bật nhất. Cách thức tác ý sợi tóc thế nào thì cách ghi nhận và nắm bắt ấn tượng đối với các thể trược còn lại trong tacapađcaka cũng như vậy. Tất cả đều cần được tác ý về ấn tượng sơ bộ qua các khía cạnh: màu sắc, hình dạng, phía, vị trí và điểm chi tiết. Xong rồi hành giả mới tác ý đến bản tướng đáng gớm của thể trược qua các khía cạnh: màu sắc, hình dạng, mùi, chỗ bám (Āsaya và vị trí (okāsa). (Ở đây tác giả trình bày rõ từng khía cạnh trên mỗi thể trược, xin xem trong kinh niệm thân của Ngài Nāgatthero).

Lợi ích của sự quán sát từng thể trược

Sau khi quán xét từng thể trược qua các khía cạnh: màu sắc, hình dạng, phía, vị trí và chi tiết như vậy, hành giả để tâm tới 5 phương diện đáng gớm của các thể trược một cách tuần tự theo 7 uggahakosalla đã giải, cuối cùng thì vị ấy sẽ vượt qua được ý niệm giả lập thông thường. Cũng như khi nhìn vào một vòng hoa kết lại bằng sợi chỉ, người ta sẽ thấy tất cả cái hoa trong cùng một lúc, không cái nào trước, cái nào sau thế nào, thì trong khi chú quán các thể trược trong thân, các pháp sẽ hiện rõ không trước, không sau nhau giống như vậy. Cho nên trong Kosallakathī, các Ngài mới bảo rằng: Đối với vị tân hành giả, trong lúc vừa để tâm vào tóc, thì sự tác ý đã hướng vọng tới nước tiểu.

Nếu bỏ đi cái nhìn hời hợt bên ngoài, rồi đưa vào tâm từng khía cạnh đáng gớm của mỗi thể trược, người ta sẽ bỏ đi ý niệm giả vọng về cái gọi là: người, thú, chúng sanh… Đối với người ta lúc đó, chỉ có các thể trược mà thôi và những món ăn, thức uống nào mà họ dùng cũng chẳng khác nào từng đống thể trược.

Khi hành giả để tâm tác ý vào bản tướng đáng gớm của thể trược một cách liên tục, thuần thục (punappunaṃ) theo 10 điều manasikārakosalla thì Kiên cố định sẽ khởi lên. Trong án xứ này, ấn tượng rõ rệt về từng khía cạnh: màu sắc, hình dạng, vị trí… của thể trược được xem là uggahanimitta. Và sự rõ nét của bản tướng đáng gớm trong thể trược tức là paṭibhāganimitta vậy. Nhờ duy trì, huân tập paṭibhāganimitta như thế, hành giả sẽ tiến đạt Sơ thiền, giống ở án xứ asubha. Đối với hành giả nào mà chỉ được một thể trược hiện rõ (chỉ nắm bắt rõ rệt một thể trược) thì tới lúc chứng đạt Kiên cố định xong, nếu không làm cho những thể trược khác được hiện rõ (như cái kia) Kiên cố định của vị ấy sẽ chỉ thu hẹp trong thể trược ấy thôi. Còn nếu như hành giả nào nắm bắt được một cách rõ rệt cùng lúc nhiều thể trược hoặc chỉ nắm bắt rõ rệt một thể trược, nhưng sau khi chứng Thiền có tu tập cho các món thể trược kia cùng được hiện rõ thì Kiên cố định của vị ấy rộng hơn, dựa theo số lượng thể trược mà mình nắm bắt được một cách rõ ràng, như Trưởng lão Mālaka (hoặc Mallaka) nói với Ngài Abhaya, một vị trì Trường Bộ như sau: Đối với vị chứng đạt Sơ thiền trong mỗi thể trược (trong tất cả thể trược), nếu đêm nhập thiền bằng một món, rồi ngày lại nhập thiền bằng một món (thể trược) thì phải tới hơn nửa tháng mới nhập hết Sơ thiền trong đề mục thể trược. Còn nếu mỗi ngày nhập thiền bằng một món thể trược thì phải hơn một tháng mới hết.

Từ lúc tu tập cho tới lúc chứng Sơ thiền xong, án xứ này vẫn được gọi là Thân hành niệm, vì nhờ tác ý vào các khía cạnh: màu sắc, hình dáng mà thành đạt thiền định.

Nhờ tu tập Thân hành niệm, vị hành giả sẽ vượt qua mọi buồn vui trên đời, không một cái gì bất mãn có thể chinh phục vị ấy. Vị hành giả tu Thân hành niệm là người dồi dào nghị lực, đủ bản lãnh vượt qua mọi bất trắc trong cuộc sống, vị ấy có thể chinh phục mọi âu lo và có khả năng nhẫn nại trong nóng lạnh, đói khát.

Và nhờ vào màu sắc của các thể trược, vị ấy có thể chứng đạt Tứ thiền, Lục thông.

 


← 10 11 12 →

Nguồn: Ngõ Vào Nội Tại
(Tỳ khưu Huyển Đạt lược dịch)
Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.

© www.tudieu.de