MARAṆASATI
Chết ở đây nghĩa là sự chấm dứt của mạng quyền và chuẩn bị cho một sinh hữ mới.
Có ba trường hợp chết: Sự chấm dứt luân hồi của vị A La Hán, sự chấm dứt của mỗi sát na tâm và sự mệnh chung thông thường của chúng sanh. Trong đề mục Chết này, Bậc Đạo Sư không nhắm vào ba cách chết đó. Mà ở đây, Ngài ám chỉ cho hai trường hợp chết sau đây: Chết đúng thời và chết phi thời.
- Chết đúng thời: Là do hết phước, hết tuổi thọ, hay do cả hai nguyên nhân ấy.
- Chết phi thời: Là do nghiệp cũ hay biệt nghiệp của mình. Chết do hết phước, tức là trong lúc các điều kiện sinh tồn (paccayasavupatti) vẫn còn, mà nghiệp tái tục (sang sinh hữu mới) lại đến lúc chín muồi. Chết trong trường hợp đó là chết do hết phước. Còn nếu đã sống hết tuổi thọ hạn định, như thời bây giờ mà sống được trăm tuổi, rồi vì các điều kiện sinh tồn như Gatisampatti, Kālasampatti, Thārasampatti... cũng không đủ để duy trì thọ mạng thì nếu có lâm chung thì được gọi chết do hết tuổi thọ.
Còn chết phi thời là chết do quả (nghiệp) trực tiếp tác động như trường hợp ác ma Dusī hay vua Kalābu chẳng hạn, hoặc chết do một áp lực bức bách nào đó như bị đâm chém… thì gọi là chết phi thời.
Mà niệm chết ở đây là suy niệm về các trường hợp mệnh chung vừa kể trên.
Hành giả muốn tu tập đề mục này, nên tìm vào một chỗ kín vắng rồi khéo tác ý rằng: "Cái chết chắc chắn phải đến, sự chấm dứt của mạng quyền chắc chắn phải xảy ra". Nếu không khéo tác ý, khi nhớ về cái chết của người thân, hành giả sẽ buồn khổ sầu muộn như bà mẹ nghĩ về cái chết của đứa con yêu, sự thích chí, khoái trá sẽ khởi lên khi hành giả nghĩ về cái chết của người mình ghét, giống như hai kẻ thù nghĩ về cái chết của nhau, sự động tâm sẽ không khởi lên khi suy niệm về cái chết của người xa lạ, không có liên hệ gì với mình, giống như người đạo tỳ nhìn thấy tử thi.
Hành giả sẽ cảm thấy sợ hãi, kinh hoàng khi nghĩ về cái chết của mình, giống như người nhát gan trông thấy gã đao phủ thủ giơ thanh gươm lên. Tất cả những tâm trạng vừa kể đều xuất phát từ sự thiếu chánh niệm và trí tuệ, cũng như sự động tâm. Cho nên hành giả, khi nào nhìn thấy chúng sanh khác bị c hết hay thấy được cái chết của mình thì hành giả cần phải suy tưởng đến cái chết của những nhân vật đặc biệt mà mình đã từng biết, để an lập chánh niệm, sự động tâm và trí tuệ rồi khéo tác ý rằng: "Cái chết chắc chắn sẽ xảy đến". Khi hành giả tác ý như vậy tức là đã thực hiện đúng phương án niệm chết (một cách khái niệm). Có những người chỉ cần tu tập đề mục chết đơn giản như thế cũng đã đè nén được pháp cái và nhờ an trú chánh niệm vào đề mục ấy, họ có thể tiến đạt Cận định. Đề mục này chỉ đưa đến Cận định mà thôi.
Nếu đã niệm chết theo cách đã giải mà vị hành giả vẫn chưa thành đạt gì thì vị ấy nên niệm chết theo 8 cách sau đây:
1- Suy tưởng tính nghiệt ngã của cái chết:
Hành giả nên quán xét rằng sự CHẾT giống như một đao phủ thủ luôn sẵn sàng kê gươm vào cổ để cắt đầu người khác. Bởi vì cái chết luôn gắn liền với cái Sanh, cũng như cái chồi nấm phải đội đất mà mọc lên thế nào thì tất cả chúng sanh đã mang theo cái già chết khi đi tái sanh trong đời.
Quả thật vậy, ngay trong tâm tái tục cũng đã có già chết nằm sẵn ở đó. Trong từng sát na tâm, cái DIỆT luôn gắn liền với cái SANH. Tất cả hữu tình kể từ khi tái tục đã bắt đầu trực diện với tử thần, không lúc nào lại có thể quay lưng với thần chết được.
Cũng như mặt trời đã mọc lên thì phải lặn xuống chớ không thể quay trở lại để tránh cái lặn xuống. Hay như một dòng suối từ núi cao đổ xuống nó luôn chảy xuôi về đồng bằng, dòng nước của nó chỉ cuồn cuộn trôi đi mãi chứ không chảy ngược về phía núi bao giờ. Trong kinh cũng nói như vậy: "Các chúng sanh ngay trong đêm đầu tiên ở bụng mẹ đã bắt đầu đối mặt với cái chết, không ai có thể ngoảnh mặt với cái chết được, chúng sanh luôn kề cận với cái chết, đời sống của các hữu tình giống như dòng suối cạn dưới ánh nắng mùa hạ, như trái cây trong giai đoạn chín rục chỉ chực ngày lên để rụng xuống, như món đồ gốm trước nhát búa, như giọt nước dưới ánh nắng mặt trời. Các Ngài đã bảo rằng: "Ngày đêm uôn trôi qua, mạng sống của chúng sanh luôn có nguy cơ chấm dứt như một con suối nhỏ, như trái cây chín rục. Những ai đã trót sanh ra đều hằng sợ hãi đối với thần chết. Hay cũng như đối với các món đồ gốm dù lớn bé, đã nung hay chưa nung đều sẵn sàng để bị bể vụn, hoặc như giọt sương trên đầu cỏ vào lúc nắng lên, mạng sống của chúng sanh cũng mong manh như thế…"
Thần chết chỉ cướp đi mạng sống của các chúng sanh mà không trả lại cho ai bao giờ, nó giống như một đao phủ thủ chỉ chực kề gươm vào cổ người khác. Cái chết luôn sẵn sàng xảy đến vì nó gắn liền với cái sống. Nói tóm lại, cái chết chẳng khác gì đao phủ thủ. Hành giả nên niệm chết qua hình ảnh này.
2- Nghĩ về cái ĐƯỢC và cái MẤT (sampatti, vipatti):
Hành giả nên suy nghĩ rằng trên đời này, cái Được luôn bị cái Mất đè bẹp, lấn át. Chẳng hạn như vua A Dục là một vị hoàng đế thống trị toàn lãnh thổ, trong tay có vàng muôn bạc vạn và có đủ những gì gọi là khoái lạc của một vị Đế vương, thế nhưng cuối cùng cũng phải đi tới cái chết, cái chung điểm của sức khỏe luôn là bệnh hoạn, chung điểm của mạng sống luôn là cái chết, chung điểm của tuổi trẻ bao giờ cũng là tuổi già. Tất cả chúng sanh đã trót sanh ra đều phải bị cái bệnh bám gót, đều bị cái già theo chân và cuối cùng là bị thần chết hủy diệt. Cái già chết không buông tha một ai, cho dầu người đó có là nhà vua, Bà la môn, phú thương hay kẻ tiện dân, không thể dùng một sức mạnh nào để có thể chặn đứng, đối mặt với thần chết, dù đó là xa binh, tượng binh, kỵ binh hay bộ binh, cũng không ai có thể dùng của cải, tài sản mà chinh phục được thần chết cả.
Cái MẤT luôn chiến thắng cái ĐƯỢC, ở đây MẤT là sự chết, ĐƯỢC là sinh mạng. Hành giả nên suy tư về cái chết theo cách thức như vậy.
3- Niệm chết bằng cách so sánh tha nhân:
Tức là hành giả nghĩ về cái chết của những nhân vật đặc
biệt mà mình thua kém để khẳng định cái chết bản thân. Có 7 hạng người đặc biệt:
- Người có danh vọng cao sang.
- Người có nhiều phước báu.
- Người có nhiều sức khỏe.
- Người có đại uy lực, nhiều thần thông.
- Người có nhiều trí tuệ.
- Đức Phật Độc Giác.
- Đức Phật Toàn Giác.
- Hành giả nên suy nghĩ như sau: Các vị hoàng đế như Mahāsammata, Mandhātu, Mahāsudassana chẳng hạn, đều là những người có đại danh xưng, thế mà họ cũng vẫn phải đi đến cái chết, huống gì một người như ta làm sao có thể tránh được tử thần.
- Hoặc hành giả suy tư như sau: Các triệu phú như Jotika (Jotiya), Jaṭila, Ugga, Meṇḍaka, Puṇṇaka đều là những người đại phước mà vẫn không thể tránh được cái chết thì huống hồ gì một người như ta.
- Hay hành giả suy tư như sau: Những người có thân lực tráng kiện, mạnh khỏe như vua Sudeva, vua Baladeva, vua Bhīmasena, vua Yudhiṭṭhila hoặc quyền sư Hanura còn không thể tránh được tử thần thì một người như ta làm sao có thể thoát được cái chết.
- Hành giả có thể suy tư rằng Trưởng Lão Mục Kiền Liên là bậc có thần lực tối thượng, chỉ dùng ngón chân cái cũng đủ làm rung chuyển cả lâu đài Vejayanta tuy vậy Ngài cũng không tránh được cái chết, huống gì một người như ta.
- Hành giả có thể quán sát như sau: Ngoại trừ Đức Thế Tôn, không có một chúng sanh nào có trí tuệ bằng 1 phần 16 của Trưởng Lão Chí Thượng Thinh Văn (Sāriputta) cả. Tuy vậy, Ngài Trưởng Lão cũng không thoát khỏi cái chết, huống gì một người như ta thì làm sao lại có thể tránh thoát được tử thần.
- Hoặc hành giả suy xét rằng: Chư Phật Độc Giác là những vị tự mình chứng ngộ với trí tuệ, tự mình đoạn tận tất cả phiền não tặc. Những vị độc hành giống như Tề ngưu, thế mà cũng đi đến cái chết thì làm sao một người như ta lại có thể tránh được cái chết.
- Hay hành giả suy tư về Đức Phật Toàn Giác rằng: Ngài là bậc có báu thân viên mãn với các đại nhân tướng cùng 80 phụ tướng, ngũ uẩn pháp thân của Ngài cũng viên mãn với các pháp Giới, Định, Tuệ… hoàn toàn thanh tịnh, Ngài là bậc đại danh xưng, đại phước, đại lực, đại thần thông, đại trí tuệ. Ngài là bậc vô tỷ, vô song, vô địch, là bậc La Hán Chánh Đẳng Giác, thế nhưng cũng phải đến giây phút chấm dứt các uẩn bằng cái chết.
Một bậc đại uy lực, đại ẩn sĩ như vậy mà vẫn không tránh khỏi cái chết thì một người như ta làm sao tránh được. Hành giả nên niệm chết bằng cách so sánh như vậy để khẳng định cái chết của chính mình. Và nên nhớ rằng đề mục này chỉ đưa tới Cận định mà thôi.
4- Nghĩ về bản chất của xác thân:
Hành giả nên quán xét rằng thân xác này là môi trường sinh sống cho cả 80 loại ký sinh trùng. Chúng bám vào trong da thịt, gân, xương để sinh sôi, phát triển sinh hoạt và bài tiết trong đó. Xác thân này là nhà hộ sinh, là bệnh xá, là nghĩa địa, là nhà xí cho các ký sinh trùng ấy. Thân xác này mỗi lúc một chết mòn vì sự sinh sôi, phát triển của chúng. Xác thân này là đối tượng của thần chết, trong thì có hàng trăm chứng bệnh, ngoài thì có muỗi mòng, rắn, rết… Tất cả luôn chực sẵn để rình rập xác thân này như các ký sinh trùng kia vậy.
Như một cái bia đặt giữa ngã tư đường, sẵn sàng hứng lấy mọi giáo tên, xác thân này cũng vậy, luôn luôn bị các tai nạn nhắm vào để hủy diệt. Cho nên Đức Thế Tôn dạy rằng: "Này các Tỳ kheo! Vị Tỳ kheo trong pháp luật này, mỗi khi đêm đã bắt đầu buông xuống, nên suy ngẫm rằng: Ta luôn luôn có nhiều nguyên nhân để mệnh chung, con rắn có thể cắn ta chết, nếu không thì con bò cạp cũng có thể chích ta chết, con rết có thể cắn ta, ta có thể sẽ chết do những nguyên nhân ấy. Nếu không thế, thì chỉ cần bị nghẹt đờm, mật rối loạn hay trúng gió, ta cũng có thể mệnh chung".
Hành giả nên suy nghiệm về cái chết bằng cách quán xét bản chất của xác thân mình như vậy.
5- Nghĩ về tính mong manh của kiếp sống (āyu):
Kiếp sống quả thật mong manh và giả tạm. Đời sống của chúng sanh là một cấu trúc ghép nối của từng hơi thở ra vào, của từng oai nghi, từng cơn nóng và lạnh, từng đại chất (mahābhūta) cùng với vật thực.
Nói kiếp sống là một chuỗi dài của từng hơi thở nghĩa là con người ta sống được là nhờ các hơi thở ra vào dễ dàng, lưu thông. Một khi có thở ra mà không có thở vào hoặc có thở vào mà không có thở ra thì được gọi là đã chết vậy.
Kiếp sống là một chuỗi dài của từng oai nghi, từng động tác lớn nhỏ, nghĩa là hễ còn vận động được thân thể tức là còn sống. Khi thân thể không còn hoạt động nữa thì gọi là đã chết, thế thôi.
Kiếp sống được tồn tại là nhờ các cảm giác nóng lạnh được quân bình, điều hòa. Một khi nóng lạnh xung khắc, bất hòa thì kiếp sống chấm dứt.
Chúng sanh sống được là nhờ Tứ đại điều hòa và vật thực thích hợp. Từ tứ đại sẽ biến thái ra mọi cái phức tạp trong thể xác, người ta mạnh khỏe hay bệnh hoạn, nóng nực hay giá rét cũng do tứ đại, tứ đại cũng luôn luôn gây ra những thay đổi, xáo trộn làm chết người, mà mạng sống con người lại trực thuộc với Tứ đại. Vì vậy, kiếp sống chỉ là một quá trình biểu diễn của Tứ đại. Trong điều kiện tứ đại thích hợp thì sống, trong môi trường tứ đại bất lợi thì chết. Chỉ có vậy. Còn đối với vấn đề vật thực, thì đó là một yếu tố sinh tồn vô cùng quan trọng, có vật thực và ăn uống hợp thời thì kiếp sống được kéo dài. Khi không có vật thực hoặc tiêu thụ vật thực trong lúc phi thời thì kiếp sống chấm dứt, cho nên mới bảo rằng: Kiếp sống chỉ là một chuỗi dài của từng bữa ăn hay chỉ là một quá trình tiêu thụ thực phẩm để được tồn tại.
6- Xét về khía cạnh bất định, vô chừng của kiếp sống:
Trên một phương diện nào đó, kiếp sống thật bất định, vô trật tự, không có tí gì để dự đoán cả (animitta). Mạng sống, bệnh hoạn, thời điểm sống chết, địa điểm mạng chung và sanh thú là những điều luôn luôn bất định, không ai có thể biết trước được về chúng.
Tại sao nói mạng sống (jīvita) là bất định, không có điềm báo? Bởi vì không có gì để làm cơ sở khẳng định mình sẽ sống chừng đó, không thể vượt qua giai đoạn đó, thời điểm đó. Bất cứ lúc nào trong kiếp sống thần chết đều có thể đến viếng chúng sanh. Từ thời kỳ phôi thai, rồi thành hình trong bụng mẹ cho đến một tháng tuổi, nhiều tháng tuổi, tới khi lớn lên và khi đã được nhiều tuổi đời, cái chết luôn sẵn sàng chực chờ, rình rập để cướp đi mạng sống chúng sanh. Đó là lý do tại sao bảo rằng mạng sống là bất định.
Bệnh hoạn cũng là một điều bất định, không có gì để biết trước được, bởi vì chẳng ai có thể dự đoán trước rằng cái bệnh hoạn sẽ đến với mình lúc nào, mình sẽ bị chứng bệnh gì mà mệnh chung, hoặc mình sẽ bị một cơn bệnh nặng nhẹ nào đó.
Vấn đề thời gian cũng là một điều mang tính bất định, vì không ai có thể trù liệu, dự định một điều gì chắc chắn cả, ai có thể ngờ trước rằng mình còn sống đến bao lâu và sẽ chết khi nào, nên mọi dự định trong cuộc đời con người luôn là tương đối trước sự chi phối của thời gian bất định.
Chỗ bỏ xác của mỗi người cũng là một điều bất định, vì không có cơ sở nào để người ta có thể khẳng định được rằng mình sẽ vĩnh viễn nằm xuống tại một nơi nào. Chúng sanh có thể sanh trong nhà mà lại chết ngoài nhà, hoặc sanh ngoài nhà mà chết trong nhà. Hoặc loài thủy tộc có thể chết trên cạn, loài trên cạn lại có thể chết dưới nước… Người trí nên suy xét đến tất cả những trường hợp chết mà địa điểm bất định như thế.
Sanh thú là một điều bất định. Vì không có gì để bảo đảm rằng mình sẽ tái sanh vào chỗ nào. Chết từ thiên giới nhưng có thể sanh vào nhân giới, mà cũng có thể sẽ sanh vào đọa xứ, nhân loại sau khi mệnh chung có thể sinh thiên mà đồng thời cũng có thể sa đọa. Thế gian này xoay vần trong 5 sinh thú như con bò bị cột vào cỗ xe.
7- Xét về thời gian ngắn ngủi của kiếp sống:
Trên thời gian, đời sống của nhân loại bây giờ quả thật là vô cùng ngắn ngủi, ít ỏi. Người trường thọ nhất cũng chỉ sống được 100 tuổi hay hơn 100 tuổi mà thôi. Cho nên Đức Thế Tôn đã dạy:
"Này các Tỳ kheo! Đời sống của nhân loại hiện nay rất ngắn ngủi, luôn sẵn sàng để bước qua kiếp sống mới, tất cả cần phải tạo trữ công đức, hành trì phạm hạnh, không có ai đã sanh ra lại không chết. Này các Tỳ kheo! Người sống lâu nhất (trong thời này) chỉ là trăm tuổi hay hơn trăm tuổi, với thọ mạng ít ỏi đó, hiền nhân chớ dãi đãi, mà phải tranh thủ hành pháp, như người bị lửa cháy trên đầu, bởi vì cái chết không thể nào không xảy đến" (Saṃy-Sa)
Và trong một chỗ khác (aṅguttara) Đức Phật dạy thêm:
- Này chư Tỳ kheo! Vị Tỳ kheo nào niệm chết như sau: "Ta đã sống trọn ngày đêm với sự tác ý đến lời dạy của Bậc Đạo Sư , đã làm tròn bổn phận của người xuất gia hay chưa?"
- Hoặc vị nào niệm chết như sau: "Trọn ngày nay ta có sống tác ý lời dạy của Đức Thế Tôn hay chưa, ta đã thực hiện bổn phận người xuất gia một cách chu toàn chưa?"
- Hay vị Tỳ kheo nào niệm chết như sau: "Trong từng lúc một, trong từng bữa ăn, ta đã sống tác ý đến lời dạy của Đức Thế Tôn chưa, ta đã thực hiện đầy đủ bổn phận người xuất gia hay chưa?"
- Hay vị Tỳ kheo nào niệm chết như sau: "Trong mỗi nắm ba miếng cơm mà mình ăn, ta có sống tác ý đến lời dạy của Đức Thế Tôn hay chưa, ta đã thực hiện đầy đủ bổn phận người xuất gia hay chưa?"
- Này các Tỳ kheo! Ta nói rằng các Tỳ kheo như thế vẫn còn dễ duôi, vẫn còn niệm chết một cách hưỡn đãi để đoạn tận lậu hoặc.
- Này các Tỳ kheo! Vị Tỳ kheo nào niệm chết như sau:
"Trong khi nhai nuốt từng miếng cơm một, ta có sống tác ý đến lời dạy bảo của Đức Thế Tôn hay chưa, ta đã thực hiện đầy đủ bổn phận người xuất gia hay chưa?". Hoặc vị Tỳ kheo nào tu tập về sự niệm chết như sau: "Trong từng hơi thở ra vào, ta có sống tác ý đến lời dạy của Đức Thế Tôn chưa, ta đã thực hiện đầy đủ bổn phận người xuất gia hay chưa?". Này chư Tỳ kheo! Ta nói rằng các Tỳ kheo ấy là những vị sống chuyên cần, là những vị tu tập đề mục niệm chết một cách tranh thủ để đoạn trừ lậu hoặc". Như vậy kiếp người quả thật ngắn ngủi, đời sống quả là ít ỏi đến mức trong thời gian nhai nuốt 4-5 miếng cơm cũng không nên dễ duôi. Hành giả nên niệm chết qua cái nhìn "đời sống ngắn ngủ" như vậy.
8- Niệm chết bằng cách chia nhỏ thời gian:
Nói theo khía cạnh Chân đế, đời sống của tất cả chúng sanh rất ngắn ngủi, thời gian tồn tại tính trên từng sát na tâm. Như cái bánh xe dù đang chạy hay đang đứng lại, cũng bám trên đất bằng một phần vành bánh xe mà thôi, kiếp sống của các hữu tình cũng tương tự như thế, cũng chỉ là từng sát na tâm. Trong sát na diệt, coi như các chúng sanh bị chết vậy. Trưởng lão Sāriputta đã thuyết (trong Khud. Mahā.) rằng:
"Trong sát na tâm quá khứ, người ta được gọi là đã sống (mà không là đang hay sẽ sống), trong sát na tâm vị lai, người ta được gọi là sẽ sống (mà không là đã hay đang sống), trong sát na tâm hiện tại, người ta được gọi là đang sống (mà không phải là đã hay sẽ sống). Kiếp sống của chúng sanh và từng niềm vui, nỗi khổ của họ, được diễn biến qua từng sát na tâm chớp nhoáng. Đối với các uẩn đã diệt, dù của kẻ còn sống hay người đang chết đều giống nhau ở chỗ, là không được tiếp tục diễn tiến nữa. Hễ tâm không còn SANH nữa thì hữu tình cư coi như đã không còn sống, được gọi là còn sống vì tâm còn diễn sanh. Gọi là đã chết vì sát na tâm đã diệt. Đó là sự phân định theo Chân đế vậy".
Lợi ích của sự niệm Chết
Khi hành giả tu tập đề mục niệm Chết bằng 1 trong 8 cách như vậy, tâm tư được trau luyện với sự tác ý thường xuyên và chánh niệm trong đề mục Chết sẽ đè nén pháp cái, các chi thiền sẽ khởi lên, nhưng theo quy luật, vì cảnh Chết là môi trường động tâm nên không thể đưa đến Kiên cố định, chỉ dẫn đến Cận định mà thôi, chỉ riêng về trường hợp Thiền Siêu Thế và hai tầng thiền Vô sắc thứ hai, thứ tư thì có thể dẫn tới Kiên cố định, bởi nói theo bản chất của hai loại thiền ấy. Thiền Siêu Thế đưa tới Kiên cố định được là vì thiền xứ ấy quá thanh tịnh. Còn hai tầng thiền Vô sắc kia, sở dĩ đưa tới Kiên cố định được, bởi vì thiền xứ của chúng là những cảnh "đã qua", "đã mất". Đề mục niệm Chết chỉ đưa tới Kiên cố định trong trường hợp nó là cảnh đã qua của thiền xứ. Mà ở đây thì không nói về trường hợp ngoại lệ đó, nên tác giả mới bảo rằng đề mục niệm Chết không thể đưa tới Kiên cố định. Thiền này được gọi là Maraṇassati (niệm Chết) vì nó khởi lên nhờ sự suy tưởng về cái chết.
Vị Tỳ kheo tu tập đề mục Chết sẽ luôn luôn là người chuyên cần, là người có ấn tượng nhàm chán trong mọi sinh hữu, dứt bỏ được sự ái luyến đời sống, là người chán ghét ác pháp, là người không có chiều hướng tích trữ tài sản, vị ấy sẽ bỏ được tính bỏn sẻn trong các món vật dụng. Ý niệm về vô thường, khổ, vô ngã sẽ thường xuyên khởi lên nơi vị ấy một cách mạnh mẽ. Người không tu tập đề mục chết, lúc gần lâm chung sẽ cảm thấy sợ hãi, riêng vị Tỳ kheo tu tập niệm Chết như vậy sẽ không có cái sợ hãi đó và khi lâm chung cũng tỉnh táo, không mê loạn. Nếu không Níp Bàn trong đời này thì vị ấy sẽ được sinh vào thiện thú. Vì vậy, người hiền trí không nên dễ duôi trong việc niệm Chết, bởi đó là ngõ dẫn tới đại uy lực.
Nguồn: Ngõ Vào Nội Tại
(Tỳ khưu Huyển Đạt lược dịch)
Họa đồ và ghi chú do Cao xuân Kiên thiết kế sau những buổi học ATĐ trên Zoom.
Nếu có thấy sơ sót sai lầm xin cảnh báo qua trang nhắn tin. Xin cảm ơn.© www.tudieu.de